Trợ lý sức khỏe của gia đình bạn KIỂM TRA TRIỆU CHỨNG

Tiết niệu

  • Phình động mạch chủ bụng xảy ra khi động mạch chủ ở phần thân dưới trở nên yếu đi và phình to ra. Phình động mạch chủ bụng là tình trạng mạch máu chính cấp máu cho cơ thể (động mạch chủ) bị giãn ra to hơn bình thường. Động mạch chủ bụng là mạch máu chính dẫn máu từ tim đến các cơ quan (vùng ngực) và các mô ở nửa phần dưới của cơ thể (bụng)
  • Viêm gân gót chân Achille là một chấn thương của gân Achille (đứt gân Achille), loại gân này là dải mô kết nối các cơ bắp phía sau phần dưới chân với xương gót chân. Viêm gân Achilles thường xảy ra nhất ở những người chạy bộ mà đột nhiên tăng cường độ chạy hoặc khoảng thời gian chạy của họ. Bệnh này cũng phổ biến ở những người độ tuổi trung niên chỉ chơi các môn thể thao, chẳng hạn như quần vợt hoặc bóng rổ,.
  • Đứt gân Achille là một chấn thương ảnh hưởng đến mặt sau của cẳng chân phía dưới. Bệnh chủ yếu xuất hiện ở những người chơi thể thao, nhưng vẫn có thể xảy ra với bất cứ ai. Dây chằng Achille là dây chằng kết nối các cơ ở phía sau bắp chân của bạn với xương gót chân. Nếu quá dãn, cơ gân Achilles có thể bị rách (đứt) một phần hoặc hoàn toàn. Nếu gân Achille bị đứt, bạn có thể nghe thấy tiếng bốp, sau đó là một cơn đau ngay lập tức ở mặt sau của mắt cá chân và dưới chân, có khả năng ảnh hưởng đến khả năng đi lại bình thường.
  • Dây chằng chéo trước (ACL) là một trong những dây chằng chính giúp ổn định khớp gối. Dây chằng chéo trước kết nối xương đùi với xương ống chân (xương chày). Dây chằng chéo trước bị chấn thương phổ biến nhất khi tập các môn thể thao có động tác dừng đột ngột và thay đổi hướng - chẳng hạn như bóng rổ, bóng đá, quần vợt và bóng chuyền. Chấn thương dây chằng chéo trước là vết rách hoặc bong gân của dây chằng chéo trước (ACL) - một trong những dây chằng chính ở đầu gối.
  • U dây thần kinh thính giác (tiền đình schwann) là một khối u lành tính phát triển từ dây thần kinh tiền đình và các dây thần kinh thính giác (ốc tai) dẫn từ tai trong đến não. Khi khối u phát triển, áp lực đè ép lên các dây thần kinh gây ù tai và mất thăng bằng, chóng mặt. Trong một số trường hợp, khối u có thể phát triển và ảnh hưởng đến tiểu não hoặc các mô não khác. U dây thần kinh thính giác, còn được gọi là tiền đình schwann, là một khối u không gây ung thư và thường phát triển chậm, phát triển trên dây thần kinh chính (tiền đình) dẫn từ tai trong đến não. Các nhánh của dây thần kinh này ảnh hưởng trực tiếp đến sự cân bằng và thính giác, và áp lực từ khối u dây thần kinh thính giác có thể gây mất thính giác, ù tai và không ổn định thính giác.
  • Viêm xoang cấp tính khiến cho không gian bên trong mũi (xoang) trở nên bị viêm và sưng. Điều này cản trở thoát nước và làm cho chất nhầy tích tụ. Khi gặp mắc viêm xoang cấp tính, người bệnh có thể thấy khó thở bằng mũi. Vùng quanh mắt và mặt có thể cảm thấy sưng và người bệnh có thể cảm thấy đau nhói ở mặt hoặc đau đầu.
  • Ù tai khi đi máy bay là một loại triệu chứng có thể ảnh hưởng đến cơ thể con người. Loại ù tai này là hiện tượng có áp lực lên màng nhĩ, xảy ra khi có sự chênh lệch áp suất giữa không khí bên trong tai và không khí môi trường. Bạn có thể bị ù tai máy bay khi ngồi trên máy bay sau khi cất cánh hoặc hạ cánh xuống đất.
  • Nứt hậu môn là một vết rách nhỏ ở mô mỏng, ẩm (niêm mạc) dẫn ra hậu môn. Một vết nứt hậu môn xuất hiện khi bạn đi đại tiện với phân cứng hoặc lớn. Nứt hậu môn thường gây đau và chảy máu khi đi đại tiện. Bạn cũng có thể thấy co thắt ở vòng cơ cuối hậu môn (cơ thắt hậu môn). Nứt hậu môn rất phổ biến ở trẻ nhỏ nhưng có thể ảnh hưởng đến bất kỳ mọi lứa tuổi. Hầu hết các vết nứt hậu môn sẽ lành đi với các phương pháp điều trị đơn giản, chẳng hạn như tăng lượng chất xơ. Cũng có một số trường hợp nứt hậu môn có thể cần dùng thuốc hoặc, đôi khi là phẫu thuật.
  • Thiếu máu là tình trạng thiếu tế bào hồng cầu khỏe mạnh để mang đủ oxy đến các mô của cơ thể. Thiếu máu có thể khiến bạn cảm thấy mệt mỏi và yếu. Có nhiều dạng thiếu máu, mỗi dạng có những nguyên nhân riêng. Thiếu máu có thể là tạm thời hoặc lâu dài, và có mức độ từ nhẹ đến nặng.
  • Đau thắt ngực là một loại đau ngực gây ra bởi hiện tượng giảm lưu lượng máu đến tim. Đau thắt ngực là triệu chứng của bệnh động mạch vành. Đau thắt ngực thường được mô tả là chèn ép, áp lực, căng hoặc đau ở phần ngực của bạn.
  • Tiêu chảy do kháng sinh chỉ hiện tượng tiêu chảy, đi tiêu lỏng xảy ra từ 3 lần trở lên trong ngày sau khi dùng thuốc điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn.
  • Ruột thừa là một túi hẹp, hình ngón tay hướng ra từ bộ phận đại tràng. Viêm ruột thừa xảy ra khi ruột thừa bị viêm và xuất hiện hiện tượng lên mủ. Viêm ruột thừa là tình trạng ruột thừa sưng viêm, gây đau phần bụng dưới phía bên phải. Tuy nhiên, hầu hết cơn đau viêm ruột thừa bắt đầu từ vùng xung quanh rốn và dần dần chuyển đau sang phần bụng dưới. Nếu tình trạng viêm trở nên tồi tệ hơn, cơn đau ruột thừa sẽ dữ dội và trở nên nghiêm trọng hơn. Bất cứ ai cũng có thể mắc viêm ruột thừa, nhưng bệnh này thường xuất hiện ở những người trong độ tuổi từ 10 đến 30. Cách điều trị thông thường là phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa.
  • Hen suyễn là tình trạng đường thở của mũi trở nên hẹp, sưng lên và tiết ra nhiều chất nhầy. Hiện tượng này gây khó thở và ho, khò khè. Với một số người, hen suyễn có thể là sự phiền phức không đáng kể. Nhưng với nhiều người khác, hen suyễn là một vấn đề lớn gây cản trở các hoạt động thường ngày và có thể dẫn đến cơn hen suyễn đe dọa đến tính mạng. Hen suyễn không thể được chữa khỏi, nhưng các triệu chứng của nó có thể kiểm soát được vì bệnh hen suyễn thường thay đổi theo thời gian, điều quan trọng là phải gặp bác sĩ để theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng và điều chỉnh phương pháp điều trị khi cần thiết.
  • Loạn thị là một khiếm khuyết phổ biến về độ cong của mắt gây ra hiện tượng mờ và tầm nhìn gần. Bệnh này phổ biến và thông thường có thể điều trị được. Loạn thị xảy ra khi bề mặt trước của mắt (giác mạc) hoặc thấu kính ở bên trong mắt có những đường cong không khớp. Bề mặt này có hình quả trứng thay vì có một đường cong như hình quả bóng tròn. Điều này gây ra hiện tượng mờ mắt ở tất cả các khoảng cách.
  • Viêm da cơ địa có thể gây ra những vết sưng nhỏ, đỏ, có thể rất ngứa. Khi bị trầy xước, các vết sưng có thể chảy ra chất dịch và đóng vảy. Viêm da cơ địa là tình trạng làm cho da đỏ và ngứa. Bệnh này phổ biến ở trẻ em nhưng có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Viêm da cơ địa kéo dài (mạn tính) và có xu hướng bùng phát định kỳ. Nó có thể đi kèm với hen suyễn hoặc sốt cỏ khô.
  • Rung nhĩ là tình trạng nhịp tim không đều và nhanh, có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ, suy tim và các biến chứng khác liên quan đến tim. Khi xảy ra rung nhĩ, hai buồng trên của tim (tâm nhĩ) đập hỗn loạn và không đều - không phối hợp với hai buồng dưới (tâm thất) của tim. Các triệu chứng rung nhĩ thường bao gồm tim đập nhanh, khó thở và yếu.
  • Hoại tử vô mạch xảy ra khi các tế bào xương khớp chết đi do thiếu nguồn cung cấp máu. Hoại tử vô mạch còn được gọi là hoại tử xương, có thể gây ra những vết vỡ nhỏ trong xương hay vỡ xương. Bất cứ ai cũng có thể bị hoại tử vô mạch, tuy nhiên tình trạng này phổ biến nhất ở những người trong độ tuổi từ 30 đến 50.
  • U nang baker là khối u chứa nhiều chất hoạt dịch gây phình và tạo cảm giác căng cứng ngay sau đầu gối. U nang Baker, còn được gọi là u nang popliteal, thông thường là kết quả của vấn đề về khớp gối, chẳng hạn như viêm khớp hoặc rách sụn. Cả hai tình trạng này có thể khiến đầu gối của bạn tạo quá nhiều chất dịch, có thể dẫn đến u nang Baker.
  • Bệnh chóng mặt tư thế lành tính (BPPV) là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất của chứng chóng mặt, triệu chứng mô tả cảm giác quay cuồng dữ dội trong đầu. Bệnh chóng mặt tư thế lành tính gây ra các cơn chóng mặt từ mức độ nhẹ đến dữ dội. Bệnh chóng mặt tư thế lành tính thường được kích hoạt bởi những thay đổi vị trí của đầu. Hiện tượng này có thể xảy ra khi bạn ngẩng đầu lên hoặc xuống, khi bạn nằm xuống hoặc trở mình hoặc ngồi dậy trên giường.
  • Tăng sản lành tính tuyến tiền liệt (BPH) - còn được gọi là u xơ tuyến tiền liệt - là một tình trạng phổ biến khi nam giới về già. U xơ tuyến tiền liệt phát triển có thể gây ra các triệu chứng tiết niệu khó chịu, chẳng hạn như chặn dòng nước tiểu ra khỏi bàng quang. Bệnh này cũng có thể gây ra các vấn đề về bàng quang, đường tiết niệu hoặc thận.
  • Sỏi bàng quang là những khối khoáng chất cứng trong bàng quang. Chúng phát triển khi các khoáng chất trong nước tiểu cô đặc kết tinh và tạo thành sỏi. Điều này thường xảy ra khi gặp khó khăn trong quá trình làm rỗng hoàn toàn bàng quang. Sỏi bàng quang nhỏ có thể phục hồi mà không cần điều trị, nhưng đôi khi sỏi bàng quang cần dùng thuốc hoặc phẫu thuật. Nếu không được điều trị, sỏi bàng quang có thể dẫn đến nhiễm trùng và các biến chứng khác.
  • Viêm bờ mi là tình trạng viêm dọc mép mí mắt. Những người mắc viêm bờ mi cảm thấy rát, ngứa mí mắt, có thể xuất hiện nhờn và vảy bám vào lông mi. Một số người bị viêm bờ mi khi thức dậy đôi lúc hai mí mắt bị dính vào nhau. Một số người khác thức dậy thấy giọt nước mắt khô quanh vùng mắt và cảm giác bụi trong mắt. Viêm bờ mi là tình trạng viêm mí mắt. Viêm bờ mi thường liên quan đến phần mí mắt nơi mọc lông mi và ảnh hưởng đến cả hai mí mắt. Viêm bờ mi thường là một bệnh mãn tính rất khó điều trị. Viêm bờ mi có thể gây khó chịu và khiến khuôn mặt trở nên khó nhìn. Tuy nhiên, thông thường viêm bờ mi không gây tổn hại vĩnh viễn cho thị lực và không lây nhiễm.
  • Nhìn thấy máu trong nước tiểu có thể gây lo lắng. Mặc dù trong nhiều trường hợp tác nhân này là vô hại, nhưng tình trạng máu trong nước tiểu (tiểu máu) có thể là dấu hiệu của rối loạn nghiêm trọng. Máu mà bạn có thể nhìn thấy được gọi là Tiểu máu gộp. Máu mà chỉ nhìn thấy được dưới kính hiển vi là Tiểu máu vi thể, được tìm thấy khi bác sĩ kiểm tra nước tiểu. Cả hai trường hợp đều cần xác định rõ nguyên nhân chảy máu. Phương pháp điều trị phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh.
  • Ung thư xương có thể bắt nguồn ở bất kỳ loại xương nào trong cơ thể, nhưng bệnh này thông thường ảnh hưởng nhiều nhất đến xương chậu hoặc xương dài ở cánh tay và chân. Ung thư xương hiếm xảy ra, tỷ lệ chiếm ít hơn 1% số lượng tất cả các bệnh ung thư. Trên thực tế, khối u xương không gây ung thư phổ biến hơn nhiều so khối u gây ung thư. Một số loại ung thư xương xảy ra chủ yếu ở trẻ em, trong khi đó những loại khác ảnh hưởng chủ yếu đến người lớn. Mặc dù phẫu thuật cắt bỏ là phương pháp điều trị phổ biến nhất, nhưng hóa trị và xạ trị cũng có thể được áp dụng.
  • U não có thể hình thành trong các tế bào não, hoặc có thể bắt nguồn từ vị trí khác và lan sang não. Khi khối u phát triển, nó tạo ra áp lực và thay đổi chức năng của mô não xung quanh, gây ra các dấu hiệu và triệu chứng như đau đầu, buồn nôn và các vấn đề về thăng bằng. U não là tình trạng khối u hoặc các tế bào bất thường tăng trưởng trong não. Có nhiều loại khối u não khác nhau. Một số khối u não không gây ung thư (lành tính), một số khối u não gây ung thư (ác tính). Các khối u não có thể bắt đầu từ trong não (khối u não nguyên phát) hoặc ung thư có thể bắt nguồn từ các bộ phận khác của cơ thể và lan sang não (khối u thứ phát hoặc di căn não).
  • Xương bàn chân và mắt cá chân Một cú ngã hoặc đạp mạnh vào mắt cá chân có thể làm gãy một hoặc nhiều hơn trong ba loại xương trong khớp mắt cá chân – Xương mác, Xương chày và Xương đòn - trong khi đó lăn mắt cá chân có thể gây ra một vết nứt khớp xương ở cuối xương chày và xương mác. Gãy chân phổ biến nhất là ở ngón chân hoặc xương dài ngay sau ngón chân. Bàn chân gãy là một chấn thương lên xương. Bạn có thể bị gãy bàn chân khi gặp trong tai nạn giao thông hoặc ngã. Mức độ nghiêm trọng gãy bàn chân là khác nhau. Gãy xương có thể từ những vết nứt nhỏ trên xương đến những vết nứt xuyên qua da. Cách điều trị gãy bàn chân phụ thuộc vào vị trí chính xác và mức độ nghiêm trọng của gãy xương.
  • Viêm tiểu phế quản là một bệnh nhiễm trùng phổi phổ biến ở trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh. Nó gây viêm và tắc nghẽn trong đường dẫn khí nhỏ (tiểu phế quản) của phổi. Viêm tiểu phế quản hầu như do virus gây ra. Thông thường, thời gian cao điểm của viêm tiểu phế quản là những tháng mùa đông. Viêm tiểu phế quản bắt đầu với các triệu chứng tương tự như cảm lạnh thông thường nhưng sau đó tiến triển thành ho, khò khè và đôi khi khó thở. Các triệu chứng của viêm tiểu phế quản có thể kéo dài vài ngày đến vài tuần, thậm chí một tháng.
  • Viêm phế quản là tình trạng viêm niêm mạc của ống phế quản. Những người bị viêm phế quản thường ho ra chất nhầy đặc, có thể bị đổi màu. Viêm phế quản có thể là cấp tính hoặc mãn tính. Viêm phế quản phát triển từ cảm lạnh hoặc nhiễm trùng đường hô hấp khác, viêm phế quản cấp tính là rất phổ biến. Viêm phế quản mãn tính là một bệnh nghiêm trọng hơn, thường xuyên gây ra khó chịu và viêm phế quản, thường là do hút thuốc lá.
  • Khi vẹo ngón chân cái, khớp ngón chân cái của bạn trở nên to ra, khiến nó chụm lại với các ngón chân khác. Áp lực lên khớp ngón chân cái đẩy nó ra bên ngoài, vượt ra ngoài cấu hình bình thường của bàn chân. Vẹo ngón chân cái là một vết sưng xương hình thành trên khớp ở gốc ngón chân cái. Nó hình thành khi ngón chân cái đẩy vào ngón chân tiếp theo của bạn, khiến khớp ngón chân cái trở nên to hơn và dính vào ra. Da trên vùng vẹo ngón chân cái có thể đỏ và đau. Đi giày chật, hẹp có thể gây ra vẹo ngón chân cái hoặc làm cho chứng vẹo trở nên tồi tệ hơn. Vẹo ngón chân cái cũng có thể phát triển do một khiếm khuyết cấu trúc di truyền, áp lực ở bàn chân hoặc một tình trạng sức khoẻ, chẳng hạn như viêm khớp.
  • Viêm túi thanh mạc là một tình trạng đau đớn ảnh hưởng đến các túi nhỏ chứa đầy chất lỏng - được gọi là bursae - đệm xương, gân và cơ gần khớp. Viêm túi thanh mạc xảy ra khi các túi này bị viêm. Các vị trí phổ biến nhất của viêm túi thanh mạc là vai, khuỷu tay và hông. Tuy nhiên, bạn cũng có thể bị viêm túi thanh mạc ở đầu gối, gót chân và gốc ngón chân cái. Viêm túi thanh mạc thường xảy ra gần các khớp thực hiện chuyển động lặp đi lặp lại thường xuyên. Cách điều trị thường bao gồm việc nghỉ ngơi vùng khớp bị ảnh hưởng và bảo vệ nó khỏi chấn thương thêm. Trong hầu hết các trường hợp, cơn đau do viêm túi thanh mạc biến mất trong vòng một vài tuần với phương pháp điều trị thích hợp, nhưng tình trạng viêm túi thanh mạc tái phát thường khá phổ biến.
  • Ngộ độc carbon monoxide xảy ra khi carbon monoxide tích tụ trong máu. Khi có quá nhiều carbon monoxide trong không khí, oxy ở các tế bào hồng cầu trong cơ thể bị thay thế bằng carbon monoxide. Điều này có thể dẫn đến tổn thương mô nghiêm trọng, hoặc thậm chí tử vong. Carbon monoxide là một loại khí không màu, không mùi, không vị được sinh ra từ việc đốt xăng, gỗ, than hoặc nhiên liệu khác. Các thiết bị và động cơ thông gió không được dùng đúng cách, đặc biệt là trong không gian kín có thể khiến carbon monoxide tích lũy đến mức nguy hiểm.
  • Hội chứng ống cổ tay là tình trạng tê, ngứa ran và các triệu chứng khác ở tay và cánh tay. Hội chứng ống cổ tay gây ra bởi một dây thần kinh bị nén trong ống cổ tay, một đường dây nhỏ ở phía trong lòng bàn tay.
  • Đục thủy tinh thể là tình trạng thấu kính của mắt bị mờ. Đối với những người bị đục thủy tinh thể, nhìn qua thấu kính mờ giống như nhìn qua cửa sổ mờ hoặc sương mù. Tầm nhìn bị che khuất do đục thủy tinh thể có thể khiến việc đọc, lái xe (đặc biệt là vào ban đêm) trở nên khó khăn hơn. Hầu hết các đục thủy tinh thể phát triển chậm và không ảnh hưởng sớm đến thị lực. Nhưng đục thủy tinh thể cuối cùng sẽ cản trở tầm nhìn của bạn theo thời gian.
  • Bệnh celiac (đôi lúc được gọi là celiac spue hoặc bệnh nhạy cảm với gluten), là một phản ứng miễn dịch đối với việc hấp thụ gluten, một loại protein có trong lúa mì, lúa mạch và lúa mạch đen. Nếu bạn bị bệnh celiac, hấp thụ gluten sẽ kích hoạt phản ứng miễn dịch ở ruột non. Dần dần, phản ứng này làm hỏng lớp lót ruột non và ngăn nó hấp thụ một số chất dinh dưỡng (kém hấp thu). Tổn thương ruột thường gây ra tiêu chảy, mệt mỏi, sụt cân, đầy hơi và thiếu máu, và có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng. Hấp thụ kém có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em. Ngoài ra, nó còn gây ra các triệu chứng có thể nhìn thấy ở người lớn.
  • Viêm mô bào thường là một nhiễm trùng bề mặt da. Nhưng nếu nghiêm trọng hoặc nếu không được điều trị, nó có thể lan vào các hạch bạch huyết và máu. Viêm mô bào là một bệnh nhiễm trùng da do vi khuẩn gây ra. Vùng da bị ảnh hưởng xuất hiện vết sưng và đỏ và thường đau khi chạm vào. Viêm mô bào thường ảnh hưởng đến da ở chân dưới, nhưng nó vẫn có thể xảy ra ở mặt, cánh tay và các vùng khác. Nó xảy ra khi một vết nứt hoặc vỡ trên da tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập. Nếu không được điều trị, nhiễm trùng có thể lan đến các hạch bạch huyết, máu và nhanh chóng đe dọa tính mạng. Viêm mô bào thường không lây từ người sang người.
  • Viêm cột sống cổ là một thuật ngữ chung chỉ quá trình liên quan đến tuổi tác ảnh hưởng đến các đĩa đệm cột sống ở cổ. Khi các đĩa đệm mất nước và co lại, các dấu hiệu viêm xương khớp phát triển, bao gồm cả các hình chiếu xương dọc theo các cạnh của xương (gai xương). Viêm cột sống rất phổ biến và có xu hướng xấu đi theo tuổi tác. Hơn 85% những người trên 60 tuổi bị ảnh hưởng bởi bệnh thoái hóa đốt sống cổ.
  • Bệnh Chlamydia trachomatis một bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục do vi khuẩn chlamydia trachomatis. Nhiều người có thể không biết mình bị nhiễm chlamydia vì không bao giờ nhận ra các dấu hiệu hoặc triệu chứng phát triển, chẳng hạn như đau bộ phận sinh dục và tiết dịch từ âm đạo hoặc dương vật. Chlamydia trachomatis ảnh hưởng đến cả nam và nữ và xảy ra ở tất cả các nhóm tuổi, mặc dù phổ biến nhất ở phụ nữ trẻ. Chlamydia trachomatis không khó điều trị khi được phát hiện. Tuy nhiên, nếu không được điều trị, nó có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng hơn.
  • Viêm túi mật là tình trạng viêm của túi mật. Túi mật là một cơ quan nhỏ hình quả lê ở bên phải bụng, bên dưới gan. Túi mật chứa một chất dịch tiêu hóa tiết ra ruột non (mật). Trong hầu hết các trường hợp, sỏi mật chặn ống dẫn ra khỏi túi mật gây ra viêm túi mật. Điều này dẫn đến sự tích tụ mật có thể gây viêm. Các nguyên nhân khác của viêm túi mật bao gồm các vấn đề về ống mật, khối u, bệnh nghiêm trọng và một số bệnh nhiễm trùng. Nếu không được điều trị, viêm túi mật có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng, đôi khi đe dọa đến tính mạng, chẳng hạn như vỡ túi mật. Điều trị viêm túi mật thường thực hiện cắt bỏ túi mật.
  • Đau vùng chậu mạn tính là tình trạng đau ở vùng dưới bụng và giữa hông kéo dài sáu tháng hoặc lâu hơn. Đau vùng chậu mạn tính có thể có nhiều nguyên nhân. Nó có thể là một triệu chứng của một bệnh khác, hoặc nó có thể là một tình trạng theo đúng nghĩa của nó. Nếu cơn đau vùng chậu mạn tính có khả năng bị gây ra bởi một vấn đề sức khoẻ khác, điều trị vấn đề đó có thể sẽ đủ để loại bỏ cơn đau. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, không thể xác định được nguyên nhân gây đau vùng chậu mạn tính. Trong trường hợp đó, mục đích của việc điều trị là giảm đau và các triệu chứng khác, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống.
  • Viêm xoang mạn tính có thể bị gây ra bởi nhiễm trùng trong xoang mũi hoặc sưng niêm mạc xoang. Các dấu hiệu và triệu chứng có thể bao gồm tắc nghẽn mũi hoặc nghẹt mũi gây khó thở qua mũi, đau và sưng quanh mắt, má, mũi hoặc trán. Viêm xoang mãn tính xảy ra khi không gian bên trong khoang mũi và đầu (xoang) bị sưng và viêm trong ba tháng hoặc lâu hơn mặc dù đã được điều trị. Tình trạng phổ biến này gây cản trở chất nhầy tiết ra, làm cho mũi bị nghẹt. Việc thở bằng mũi có thể gặp khó khăn và vùng quanh mắt có thể cảm thấy sưng hoặc đau. Viêm xoang mạn tính còn được gọi là viêm mũi họng mãn tính. Tình trạng này có thể ảnh hưởng đến cả người lớn và trẻ em.
  • Đau đầu từng cơn xảy ra theo chu kỳ hoặc giai đoạn cụm, là một trong những loại đau đầu nặng nhất. Đau đầu từng cơn thường gây mất ngủ vào giữa đêm với cơn đau dữ dội ở một bên mắt hoặc xung quanh một bên mắt ở một bên đầu. Các cơn đau đầu thường xuyên, được gọi là giai đoạn cụm, có thể kéo dài từ vài tuần đến vài tháng, thường theo sau là thời gian thuyên giảm khi cơn đau đầu dừng lại. Trong thời gian thuyên giảm, hiện tượng đau đầu không xuất hiện trong nhiều tháng và thậm chí nhiều năm.
  • Ung thư đại tràng là một loại ung thư bắt đầu từ ruột già (đại tràng). Đại tràng là phần cuối cùng của đường tiêu hóa. Ung thư ruột già thường ảnh hưởng đến người lớn tuổi, mặc dù nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Nó thường bắt đầu như những khối tế bào nhỏ, không ung thư (lành tính) được gọi là polyp hình thành ở bên trong đại tràng. Theo thời gian một số polyp này có thể phát triển thành ung thư ruột già. Polyp có thể nhỏ và được tạo ra với số lượng ít nếu có triệu chứng. Vì lý do này, các bác sĩ khuyên nên kiểm tra sàng lọc thường xuyên để giúp ngăn ngừa ung thư ruột già bằng cách xác định và loại bỏ polyp trước khi chúng phát triển thành ung thư. Nhiều phương pháp điều trị có sẵn giúp kiểm soát ung thư ruột già phát triển bao gồm phẫu thuật, xạ trị và điều trị bằng thuốc, hóa trị và liệu pháp miễn dịch. Ung thư ruột già đôi khi được gọi là ung thư đại trực tràng, là một thuật ngữ kết hợp ung thư ruột già và ung thư trực tràng, bắt đầu từ trong trực tràng.
  • Polyp đại tràng là một khối nhỏ của các tế bào hình thành trên niêm mạc đại tràng. Hầu hết các bệnh polyp đại tràng là vô hại. Nhưng theo thời gian, một số polyp đại tràng có thể phát triển thành ung thư ruột già, thường gây tử vong khi được phát hiện ở giai đoạn sau. Bất cứ ai cũng có thể mắc polyp đại tràng. Nguy cơ mắc polyp đại tràng cao hơn đối với người từ 50 tuổi trở lên, thừa cân hoặc hút thuốc, có tiền sử cá nhân hoặc gia đình mắc bệnh polyp đại tràng hoặc ung thư ruột già. Polyp đại tràng thường không gây ra triệu chứng. Viêc quan trọng là phải kiểm tra sàng lọc thường xuyên, chẳng hạn như nội soi, bởi vì polyp đại tràng được tìm thấy trong giai đoạn đầu thường có thể được loại bỏ một cách an toàn và triệt để. Cách phòng ngừa tốt nhất cho ung thư ruột kết là sàng lọc polyp thường xuyên.
  • Cảm lạnh thông thường là tình trạng nhiễm virus ở mũi và cổ họng (đường hô hấp trên). Nó thường vô hại, mặc dù người bệnh có thể không cảm thấy như vậy. Nhiều loại virus có thể gây cảm lạnh thông thường. Trẻ em dưới 6 tuổi có nguy cơ bị cảm lạnh cao nhất, nhưng người lớn khỏe mạnh cũng có thể bị cảm lạnh hai hoặc ba lần mỗi năm. Hầu hết mọi người phục hồi sau cảm lạnh thông thường trong vòng một tuần hoặc 10 ngày. Các triệu chứng có thể kéo dài hơn ở những người hút thuốc. Nếu các triệu chứng không cải thiện, hãy đi khám bác sĩ.
  • Chấn động là chấn thương sọ não ảnh hưởng đến chức năng của não. Các ảnh hưởng thường là tạm thời nhưng có thể bao gồm đau đầu và các vấn đề về khả năng tập trung, trí nhớ, thăng bằng và phối hợp. Các chấn động thường được gây ra bởi một cú va chạm vào đầu. Lắc mạnh đầu và thân trên cũng có thể gây chấn động. Một số chấn động có thể khiến bạn mất ý thức, nhưng hầu hết không gây mất ý thức. Các chấn động đặc biệt phổ biến nếu bạn chơi một môn thể thao tiếp xúc, chẳng hạn như bóng đá. Hầu hết mọi người thường hồi phục hoàn toàn sau khi bị chấn động.
  • Táo bón mãn tính là tình trạng đi đại tiện không đều đặn hoặc đi đại tiện khó khăn kéo dài trong vài tuần hoặc lâu hơn. Táo bón thường được cho là tình trạng đi tiêu ít hơn ba lần mỗi tuần. Mặc dù táo bón rất phổ biến, nhưng một số người bị táo bón mãn tính có thể bị cản trở khả năng thực hiện các công việc hàng ngày. Táo bón mãn tính cũng có thể gây căng thẳng khó chịu quá mức khi đi đại tiện. Điều trị táo bón mạn tính phụ thuộc một phần vào nguyên nhân cơ bản. Tuy nhiên, trong một số trường hợp không tìm được nguyên nhân.
  • Trầy xước giác mạc là một vết xước trên bề mặt bảo vệ ở phía trước mắt (giác mạc). Giác mạc có thể bị trầy xước do tiếp xúc với bụi, bụi bẩn, cát, dăm gỗ, hạt kim loại, kính áp tròng hoặc thậm chí là cạnh của một mảnh giấy.
  • Mắt cá (hay còn gọi là hạt sừng) và vết chai chân là những lớp da dày và cứng xuất hiện khi da bị chịu áp lực, ma sát trong thời gian dài và liên tục. Chúng thường có ở lòng bàn chân và ngón chân hoặc lòng bàn tay và ngón tay.
  • Bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch xảy ra khi phần lớn động mạch vành bị tổn thương. Xơ vữa động mạch là do sự tích tụ cholesterol lắng đọng trong vành mạch và gây phình động mạch. Mảng do chất mỡ tích tụ trong mạch máu sẽ làm hẹp động mạch vành, giảm lượng máu đến tim sẽ gây ra đau tức ngực, thở hổn hển, hoặc các triệu chứng khác. Máu bị tắc nghẽn hoặc ngừng chảy có thể gây đau tim.
  • Hội chứng khớp sụn sườn là hiện tượng viêm của khớp sụn nối gữa xương sườn và xương ngực (xương ức). Triệu chứng của hội chứng khớp sụn sườn rất giống với triệu chứng của đau tim hay các bệnh về tim khác. Hội chứng khớp sụn sườn thường được hiểu như đau thành ngực. Tuy nhiêm nếu vị trí đau khuynh hướng gây sưng khớp sụn sườn thì đó là Hội chứng Tietze.
  • Viêm da dầu ở đầu là tình trạng xuất hiện mảnh vảy tróc hay những mảng vảy dầu trên da đầu trẻ sơ sinh. Bệnh lý này không gây ra đau đớn hay ngứa rát nhưng có thể xuất hiện những vảy màu trắng hoặc vàng rất khó bóc ra.
  • Bệnh Crohn (viêm ruột từng vùng) là tình trạng viêm mãn tính ở đường ruột, gây viêm đường tiêu hoá, dẫn đến các triệu chứng đau bụng, tiêu chảy nghiêm trọng, mệt mỏi, giảm cân và suy dinh dưỡng. Tình trạng viêm do bệnh Crohn gây ra thường lan sâu vào các lớp mô ruột, gây vừa đau đớn vừa suy nhược và đôi khi có thể dẫn đến những biến chứng đe doạ tính mạng.
  • Viêm thanh khí phế quản là tình trạng nhiễm trùng đường hô hấp có thể gây tắc nghẽn hô hấp và khiến người bệnh ho dữ dội. Sự phình to xung quanh thanh quản và khí quản là nguyên nhân gây ra tình trạng ho và các triệu chứng khác của viêm thanh khí phế quản. Khi cơn ho làm không khí đi qua con đường nhỏ hẹp này, dây thanh âm sẽ phát ra tiếng động giống như tiếng kêu của một con hải cẩu. Khi hít thở cũng sẽ tạo ra âm thanh như tiếng rít hoặc tiếng khò khè.
  • Xơ nang là bệnh di truyền gây ra những thương tổn nghiêm trọng đến phổi, hệ tiêu hoá và các cơ quan khác trong cơ thể. Xơ nang ảnh hưởng đến những tế bào sản sinh niêm dịch, mồ hôi và dịch tiêu hoá. thông thường, dịch nhầy mỏng và trơn, nhưng khi mắc bệnh xơ nang, những gen khiếm khuyết sẽ khiến dịch nhầy trở nên dày và dính. Thay vì hoạt động như một chất bôi trơn, dịch nhầy sẽ làm tắc nghẽn những ống ruột, ống mật, đặc biệt là ở phổi và tuyến tụy.
  • Thuyên tắc tĩnh mạch sâu xảy ra khi có cục máu đông xuất hiện trong một hay nhiều tĩnh mạch sâu trong cơ thể, thường là ở chân. Thuyên tắc tĩnh mạch sâu thường khiến chân bị đau hoặc bị phù, những cũng có thể không xuất hiện triệu chứng gì. Thuyên tắc tĩnh mạch sâu có thể phát triển nếu có bệnh ảnh hưởng đến máu đông, cũng có thể xuất hiện nếu không hoạt động trong một thời gian dài như sau khi phẫu thuật hay tai nạn, hay khi nằm liệt giường.
  • Bệnh lệch vách mũi xảy ra khi vách mũi ở giữa hai lỗ mũi bị lệch về một bên. Ở một số người, vách mũi bị lệch khiến một hốc mũi bị nhỏ hẹp hơn. Với những trường hợp lệch vách mũi nặng, một bên mũi sẽ bị nghẽn làm giảm dòng không khí lưu thông gây khó thở.
  • Viêm da tã lót là một dạng viêm da khiến em bé có hiện tượng ửng đỏ ở một vùng da. Viêm da tã lót thường do tã lót bị ướt hoặc không được thay thường xuyên, da nhạy cảm và bị cọ xát nhiều.
  • Tiêu chảy, đại tiện phân lỏng và những chuyển động nhiều hơn của ruột là một vấn đề thường gặp. Tiêu chảy thường chỉ kéo dài vài ngày, nhưng sẽ là vấn đề khác nếu tiêu chảy kéo dài hàng tuần. Nếu bị tiêu chảy lâu hơn vài tuần, đó có thể là dấu hiệu của rối loạn kích thích ruột (đại tràng co thắt) và các chứng rối loạn nghiêm trọng hơn như là viêm nhiễm dai dẳng hay viêm ruột từng vùng.
  • Sai khớp vai là một dạng chấn thương khi trụ cầu xương cánh tay bị trật ra khởi hõm chứa ở bả vai. Khớp vai là khớp linh động nhất của cơ thể nên rất dễ bị sai khớp vai. Một khi bị sai khớp vai, khớp vai sẽ không ổn định và dễ bị sai khớp vai lần nữa.
  • Túi thừa thường phổ biến, đặc biệt ở độ tuổi sau 40 và ít gây vấn đề nghiêm trọng. Đôi khi, một hay nhiều khoang túi bị viêm nhiễm, được gọi là viêm túi thừa. Viêm túi thừa có thể gây đau bụng, sốt cao, buồn nôn và thay đổi thói quen của ruột.
  • Khô mắt là một hội chứng thường gặp xuất hiện khi mắt không thể sản sinh ra đủ chất bôi trơn (nước mắt) để giữ ẩm cho mắt. Nước mắt có thể thiếu bởi nhiều lý do, ví dụ như khi mắt không sản sinh ra đủ nước mắt hoặc nước mắt không thể làm ẩm mắt. Khô mắt gây khó chịu, cay hay nóng mắt. Chúng ta sẽ bị khô mắt ở nhiều trường hợp như ngồi máy bay, ngồi phòng điều hoà, đạp xe hay nhìn vào màn hình máy tính trong nhiều giờ.
  • Khi thoái hoá điểm vàng phát triển, thị giác sẽ trở nên yếu đi bởi những điểm mờ bị biến dạng với những vùng bị khuyết. Với sự phát triển của thoái hoá điểm vàng, một điểm mù đặc trưng sẽ được hình thành ở chính giữa vùng thị giác. Thoái hoá điểm vàng thể khô là chứng rối loạn thị lực hay xảy ra ở người từ 50 tuổi trở lên, gây giảm thị lực và mờ mắt do độ hẹp của điểm vàng ở mắt. Điểm vàng và một phần của võng mạc làm cho những hình ảnh trực tiếp rõ hơn. Thoái hoá điểm vàng thể khô có thể bắt đầu từ một bên mắt và sau đó ảnh hưởng cả hai mắt. Thị lực có thể ảnh hưởng nhiều hơn theo thời gian và ảnh hưởng đến khả năng thực hiện các hoạt động hàng ngày như đọc sách, lái xe và nhận diện khuôn mặt, nhưng nó không có nghĩa là sẽ bị mất hoàn toàn thị lực.
  • Khô miệng là tình trạng tuyến nước bọt không tiết ra đủ nước bọt để giữ cho miệng đủ ẩm. Khô miệng thường do tác dụng phụ của thuốc hay vấn đề tuổi tác, hoặc là kết quả của liệu pháp bức xạ trị ung thư. Đôi khi, khô miệng có thể là tác dụng trực tiếp của các bệnh tuyến nước bọt. Nước bọt ngăn ngừa sâu răng bằng axit trung hoà được tạo bởi vi khuẩn, hạn chế sự phát triển của vi khuẩn và cuốn đi những mẩu thức ăn thừa. Nước bọt cũng tăng khẩu vị và làm cho việc nhai nuốt thức ăn dễ hơn. Khô miệng có thể chỉ đơn thuần là sự khó chịu nhưng cũng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ tổng thể và sự khoẻ mạnh của răng, nướu cũng như khẩu vị.
  • Viêm tai giữa là tình trạng tai giữa bị nhiễm trùng, khoảng không gian chứa khí phía sau màng nhĩ có những xương rung nhỏ ở tai. Trẻ em dễ bị viêm tai giữa hơn người lớn.
  • Nút ráy tai xảy ra khi ráy tai tích tụ ở trong tai và rất khó để lấy hết ráy tai một cách tự nhiên. Ráy tai là một phần tự nhiên và có ích đối với sự bảo vệ vai của cơ thể. Nó giúp làm sạch tai, bôi trơn và bảo vệ lỗ tai khỏi bụi bẩn và làm giảm sự phát triển của vi khuẩn.
  • Chửa ngoài tử cung xảy ra khi trứng được thụ tinh phát triển bên ngoài tử cung. Chửa ngoài tử cung thường xuất hiện ở ống dẫn trứng, nơi mang trứng từ buồng trứng tới tử cung, gọi là chửa trong vòi tử cung. Đôi khi, chửa ngoài tử cung xuất hiện ở những vùng khác của cơ thể như buồng trứng, khoang bụng hay cổ tử cung nối với âm đạo. Chửa ngoài tử cung không thể tiến triển bình thường, trứng được thụ tinh không thể sống lâu, và những tế bào phát triển có thể chảy máu gây nguy hiểm tính mạng nếu không được chữa trị.
  • Giãn phế nang là một bệnh phổi gây ra thở gấp (khó thở). Với những người bị giãn phế nang, túi khí trong phổi (phế nang) bị tổn thương. Theo thời gian, thành bên trong phế nang bị yếu đi và bị thủng, tạo ra một khoảng trống lớn hơn thay thế cho những cái nhỏ. Điều này làm giảm diện tích bề mặt phổi và lượng khí oxi sẽ đi vào máu.
  • Viêm não là tình trạng não bị viêm nhiễm do virus gây ra. Viêm não thường gây những triệu chứng và dấu hiệu như bị cúm nhẹ, như sốt hay đau đầu, cũng có thể không có triệu chứng gì. Đôi khi triệu chứng giống bị cúm có thể nặng hơn. Viêm não cũng có thể gây rối loạn thần kinh, tai biến hay các vấn đề với các giác quan hay cử động.
  • Đại tiện mất tự chủ là tình trạng phân bị tích tụ quá nhiều ở kết tràng (ruột kết) và trực tràng (ruột thẳng): Kết tràng trở nên quá đầy và phân lỏng bị rỉ ra làm bẩn quần lót. Cuối cùng, phân bị ứ đọng có thể gây phình ruột và mất khả năng kiểm soát những hoạt động của ruột.
  • Lạc nội mạc tử cung là tình trạng các mô trong lòng tử cung – màng trong dạ con – phát triển ra bên ngoài tử cung. Lạc nội mạc tử cung thường liên quan đến buồng trứng, ống dẫn trứng và các mô trong sàn xương chậu. Đôi khi các mô lạc nội mạc có thể lan đến các cơ quan trên xương chậu.
  • Viêm mào tinh hoàn là tình trạng sưng viêm ở ống nằm phía sau tinh hoàn, nơi chứa tinh trình. Viêm mào tinh hoàn có thể xảy ra ở bất kì độ tuổi nào. Viêm mào tinh hoàn thường do lây nhiễm vi khuẩn, bao gồm bệnh nhiễm trùng qua đường tình dục (STIs) như bệnh lậu hay Chlamydia. Đôi khi, tinh hoàn cũng bị nhiễm trùng – được gọi là viêm tinh hoàn.
  • Viêm nắp thanh môn là tình trạng viêm nhiễm cấp tính đe doạ tính mạng xảy ra khi nắp thanh quản – nắp sụn nhỏ che khí quản bị sưng, ngăn dòng khí đi vào phổi. Một số yếu tố làm nắp thanh quản bị sưng – bỏng từ chất lỏng nóng, trực tiếp tổn thương cổ họng và nhiều loại viêm nhiễm. Nguyên nhân thường gặp ở trẻ nhỏ trong quá khứ là lây nhiễm vi khuẩn Haemophilus influenza loại b (Hib), giống với vi khuẩn bệnh viêm phổi, viêm màng não và nhiễm trùng đường máu.
  • Ung thư thực quản xảy ra khi các tế bào ung thư phát triển trong thực quản – một cấu trúc dạng ống chạy từ cổ họng xuống dạ dày. Thực quản giúp di chuyển thực phẩm từ miệng xuống dạ dày để tiêu hoá. Ung thư thực quản thường bắt đầu ở lớp bên trong thực quản và có thể lan ra các bộ phận xung quanh thực quản. Số đàn ông mắc ung thư thực quản nhiều hơn số phụ nữ mắc bệnh này.
  • Rối loạn vận động thực quản là tình trạng đau co thắt trong ống cơ nối miệng với thực quản, có thể xuất hiện đột ngột, đau tức ngực dữ dội kéo dài vài phút đến vài tiếng đồng hồ. Rối loạn vận động thực quản thường xảy ra ngẫu nhiên và có thể không cần điều trị, nhưng đôi khi những cơn co thắt xảy ra thường xuyên và ngăn cản thức ăn và chất lỏng chảy xuống thực quản. Nếu những cơn co thắt làm gián đoạn việc ăn uống, nên cân nhắc điều trị.
  • Vẩn đục dịch kính là tình trạng xuất hiện những đốm trong tầm nhìn, giống những đốm màu xám hay đen, hình dấu phẩy hay những mảnh nhỏ di chuyển khi chuyển động mắt và lướt qua khi cố nhìn trực tiếp. Hầu hết vẩn đục dịch kính do lão hoá xảy ra vì thuỷ tinh thể trong mắt bị lỏng đi. Các phân tử sợi trong thuỷ tinh thể có xu hướng tụ lại và in bóng lên võng mạc, bóng của chúng gọi là vẩn đục dịch kính.
  • Viễn thị là bệnh về mắt thường gặp khiến người bệnh có thể thấy những vật ở xa rất rõ nhưng khi nhìn những vật gần có thể mờ đi. Độ nặng nhẹ của viễn thị có ảnh hưởng đến khả năng tập trung. Người với chứng viễn thị nặng chỉ có thể nhìn rõ vật ở khoảng cách rất xa, trong khi người bị viễn thị nhẹ có thể nhìn thấy vật ở khoảng cách gần hơn. Viễn thị có thể là bệnh bẩm sinh và di truyền trong gia đình, có thể sửa tật này với kính mắt hay kính áp tròng. Liệu pháp khác là phẫu thuật.
  • Bàn chân bẹt là trường hợp vòm bàn chân trở nên phẳng bẹt, khiến cả lòng bàn chân chạm đất khi đứng. Là một hội chứng thường gặp và không khiến người bệnh bị đau, bàn chân bẹt xảy ra khi vòm bàn chân không phát triển. Trong các trường hợp khác, bàn chân bẹt phát triển sau chấn thương hay từ sự hao mòn.
  • Dị ứng thực phẩm là phản ứng của hệ miễn dịch xảy ra ngay sau khi ăn một loại thức ăn. Chỉ cần một lượng thức ăn gây dị ứng rất nhỏ cũng có thể gây ra các triệu chứng như vấn đề về tiêu hoá, phát ban hay sưng phù khí đạo. Ở một số người, dị ứng thực phẩm có thể gây ra nhiều triệu chứng nghiêm trọng hay thậm chí phản ứng nguy hiểm đến tính mạng được biết đến là sốc phản vệ.
  • Ngộ độc thực phẩm là tình trạng ốm do ăn phải thực phẩm không sạch. Những sinh vật gây nhiễm – vi khuẩn, virus hay ký sinh trùng – hay độc tố của chúng là nguyên nhân thường thấy của ngộ độc thực phẩm. Những sinh vật gây nhiễm và độc của chúng có thể làm nhiễm bẩn thức ăn ở bất cứ quy trình hay sản phẩm nào. Sự nhiễm bẩn có thể xảy ra ở nhà nếu không được xử lý và nấu đúng cách. Triệu chứng của ngộ độc thực phẩm có thể bắt đầu trong vài giờ sau khi ăn thức ăn nhiễm bẩn, thường là buồn nôn, nôn mửa hay tiêu chảy. Ngộ độc thực phẩm thường nhẹ và tự hết nhưng một số người cần phải đi bệnh viện nếu ngộ độc.
  • Một vật lạ mắc trong tai có thể gây đau nhức, nhiễm trùng và mất khả năng nghe. Thông thường, chúng ta có thể biết nếu có vật gì đó mắc trong tai, nhưng trẻ nhỏ có thể không để ý đến nó.
  • Sỏi mật là tình trạng những chất lắng đọng của dịch tiêu hoá đóng cục được hình thành trong túi mật. Túi mật là cơ quan nhỏ có hình quả lê ở bên phải bụng, ngay dưới gan. Túi mật chứa dịch tiêu hoá gọi là mật được đưa vào đường ruột. Sỏi mật có nhiều kích thước, từ nhỏ như hạt cát đến to như quả bóng gôn.
  • Khí trong hệ tiêu hoá là một phần của quá trình tiêu hoá. Ợ hơi hay xì hơi (trung tiện) để giảm bớt lượng khí dư thừa cũng là bình thường. Đầy hơi xảy ra khi khí bị giữ lại hay không lưu thông tốt trong hệ tiêu hoá. Sự gia tăng khí hay đầy hơi có thể bắt nguồn từ việc ăn thức ăn có thể sản sinh nhiều khí. Đôi khi, sự thay đổi đơn giản trong thói quen ăn uống có thể giảm bớt khí gây khó chịu.
  • Viêm dạ dày là một thuật ngữ chung chỉ một nhóm bệnh có một điểm chung: dạ dày bị nhiễm trùng. Viêm dạ dày thường là kết quả của sự viêm sưng do vi khuẩn cùng loại với vi khuẩn gây loét dạ dày. Viêm dạ dày có thể đột ngột xảy ra (viêm dạ dày cấp tính), hay xuất hiện dần theo thời gian (viêm dạ dày kinh niên). Trong một số trường hợp, viêm dạ dày có thể dẫn đến loét dạ dày và tăng nguy cơ ung thư dạ dày. Tuy nhiên, đa số viêm dạ dày không nghiêm trọng và cải thiện nhanh nếu được điều trị.
  • Bệnh trào ngược dạ dày – thực quản (GERD) xảy ra khi axit dạ dày trào ngược trở lên ống nối giữa miệng và dạ dày (thực quản). Sự trào ngược này có thể kích thích và làm sưng lớp lót trong thực quản. Nhiều người trải qua sự trào ngược này nhiều lần. Trào ngược dạ dày – thực quản là chứng trào ngược axit nhẹ có thể xảy ra hai lần một tuần hay nặng có thể xảy ra ít nhất một lần một tuần. Nhiều người có thể kiềm chế sự khó chịu của GERD bằng các thay đổi cách sống và các loại thuốc không kê đơn, nhưng một số người cần đến những loại thuốc mạnh hay phẫu thuật để giảm các triệu chứng.
  • Liệt nhẹ dạ dày là chứng bệnh ảnh hưởng đến sự chuyển động tự phát bình thường của cơ co dạ dày. Thông thường, cơ co dạ dày hoạt động mạnh để đẩy thức ăn xuống ống tiêu hoá, nhưng nếu mắc chứng liệt nhẹ dạ dày, sự co bóp dạ dày sẽ chậm đi hay không hoạt động khiến dạ dày không được làm rỗng hoàn toàn một cách hợp lý. Những loại thuốc như thuốc giảm đau chứa opioid, thuốc giảm suy nhược, thuốc huyết áp cao và thuốc dị ứng có thể làm chậm quá trình làm rỗng dạ dày và gây các triệu chứng tương tự. Với những người mắc bệnh liệt nhẹ dạ dày, những loại thuốc này có thể làm tình trạng của họ tệ hơn. Liệt nhẹ dạ dày có thể gây trở ngại sự tiêu hoá bình thường, gây buồn nôn và nôn mửa và các vấn đề với đường huyết và dinh dưỡng. Mặc dù không có cách điều trị liệt dạ dày nhưng thay đổi chế độ ăn uống kết hợp thuốc có thể làm giảm bớt.
  • Herpes cơ quan sinh dục là bệnh lây truyền qua đường tình dục gây ra bởi virus herpes (HSV). Quan hệ tình dục là con đường lây lan chính của virus. Sau nhiễm trùng ban đầu, virus sẽ ngấm ngầm ở trong cơ thể và hoạt động lại nhiều lần trong một năm. Herpes cơ quan sinh dục gây đau, ngứa và nhức ở vùng cơ quan sinh dục, nhưng cũng có thể không có triệu chứng gì. Nếu bị nhiễm, người bệnh có thể bị lây nhiễm kể cả khi không có những triệu chứng. Hiện nay chưa có cách điều trị của bệnh herpes, nhưng có các loại thuốc giảm triệu chứng và giảm nguy cơ lây nhiễm. Bao cao su cũng có thể ngăn ngừa sự truyền nhiễm của herpes.
  • Viêm động mạch tế bào khổng lồ là tình trạng viêm niêm mạc động mạch, thường ảnh hưởng để các động mạch ở đầu, đặc biệt là vùng thái dương. Vì thế, viêm động mạch khổng lồ còn được gọi là viêm động mạch thái dương. Viêm động mạch tế bào khổng lồ thường gây đau đầu, da đầu nhạy cảm, đau hàm và các vấn đề về tầm nhìn. Nếu không chữa trị có thể dẫn đến mù loà.
  • Nhiễm trùng do Giardia là bệnh nhiễm trùng ruột với các triệu chứng như chuột rút bụng, sưng phù bụng, buồn nôn và tiêu chảy từng cơn. Nhiễm Giardia gây ra bởi một loại ký sinh trùng vi mô được tìm thấy trên toàn thế giới, đặc biệt ở những vùng có điều kiện vệ sinh nghèo nàn và nước không đủ vệ sinh. Ký sinh trùng được tìm thấy ở các con suối và hồ nước cũng như các nguồn cung cấp nước của thành phố, hồ bơi, suối hay giếng nước. Nhiễm giardia có thể lây truyền qua đồ ăn và tiếp xúc giữa người với người.
  • Glôcôm là nhóm bệnh về mắt có thể gây tổn thương dây thần kinh thị giác và sự tổn thương này xảy ra do sự áp lực quá cao lên mắt. Glôcôm là một trong những nguyên nhân dẫn đến mù của người trên 60 tuổi. Nó có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi nhưng thường ở những người già. Nhiều loại Glôcôm không có dấu hiệu nhận biết, nhưng sự ảnh hưởng dần dần làm bạn không để ý sự thay đổi ở thị lực đến khi bệnh ở giai đoạn nặng hơn.
  • Viêm cầu thận là tình trạng viêm nhiễm của bộ lọc nhỏ trong thận (tiểu cầu thận). Tiểu cầu thận có nhiệm vụ lọc máu và thải các dịch, điện giải và chất thải vào nước tiểu. Viêm cầu thận có thể xảy ra đột ngột (cấp tính) hay phát triển dần dần (kinh niên). Viêm cầu thận tự xảy ra hay là một phần của các chứng bệnh khác như bệnh luput hay tiểu đường. Nhiễm trùng cầu thận nghiêm trọng hay kéo dài có thể khiến thận bị tổn thương. Từng loại viêm cầu thận có cách chữa trị khác nhau.
  • Bệnh lậu là tình trạng nhiễm trùng do virus truyền nhiễm qua đường tình dục có thể lây nhiễm ở cả nam và nữ. Bệnh lậu thường ảnh hưởng đến đường niệu, trực tràng hay thanh quản. Ở nữ, bệnh lậu cũng có thể ảnh hưởng đến cổ tử cung. Bệnh lậu thường lây truyền qua quan hệ tình dục, nhưng trẻ nhỏ có thể bị nhiễm trong lúc sinh nếu mẹ chúng bị bệnh lậu và thường ảnh hưởng đến mắt chúng. Bệnh lậu là bệnh lây nhiễm thường gặp và trong nhiều trường hợp không gây triệu chứng gì. Tiết chế quan hệ tình dục, dùng bao cao su khi quan hệ tình dục và chế độ một vợ một chồng là những cách tốt nhất để ngăn ngừa bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục.
  • Gút là một dạng viêm khớp thường và có thể ảnh hưởng bất kỳ ai, được nhận biết bởi những cơn đau đột ngột, dữ dội, viêm sưng, đỏ tấy và nhạy cảm ở các khớp, thường là khớp ngón cái. Những cơn đau của gút có thể xuất hiện đột ngột, thường làm bạn tỉnh dậy lúc nửa đêm và cảm thấy ngón cái sưng tấy. Những khớp bị ảnh hưởng sẽ nóng, sưng tấy và nhạy cảm đến mức khăn trải giường phủ lên cũng có thể khiến người bệnh không chịu được.
  • U hạt hình nhẫn là bệnh da mãn tính, gây ra các vết sưng (tổn thương) màu đỏ hoặc đổi màu da dưới dạng hình nhẫn, thường trên bàn tay và bàn chân. Các thương tích da nhẹ và một số loại thuốc có thể gây ra tình trạng này. Các tổn thương thường tự biến mất trong vòng hai năm mà không cần điều trị.
  • Đau tăng trưởng là cảm giác đau nhức hoặc đau nhói ở chân - thường ở phía trước đùi, bắp chân hoặc phía sau đầu gối. Đau tăng trưởng có xu hướng ảnh hưởng đến cả hai chân và xảy ra vào ban đêm.
  • Ngón chân hình búa, ngón chân uốn cong là những dị tật ở bàn chân xảy ra do sự mất cân bằng giữa cơ, gân hoặc dây chằng, những bộ phận thường giữ ngón chân thẳng. Loại giày bạn mang, cấu trúc bàn chân, chấn thương và một số tình trạng bệnh nhất định có thể góp phần gây ra các dị tật này. Ngón chân hình búa là sự uốn cong bất thường ở khớp giữa của ngón chân. Ngón chân uốn cong ảnh hưởng đến khớp gần móng chân nhất. Ngón chân hình búa, ngón chân uốn cong thường xuất hiện ở ngón chân thứ hai, thứ ba và thứ tư. Có thể giảm đau và giảm áp lực lên ngón chân hình búa và ngón chân uốn cong bằng cách thay đổi giày dép và đeo miếng đệm trong giày. Trường hợp ngón chân hình búa và ngón chân uốn cong nghiêm trọng, có thể cần xử lý bằng phẫu thuật.
  • Bệnh tay chân miệng - bệnh nhiễm trùng nhẹ do virus, phổ biến ở trẻ nhỏ - đặc trưng với các vết loét ở miệng và phát ban ở tay và chân. Virus gây bệnh tay chân miệng phổ biến nhất là coxsackievirus. Không có cách điều trị cụ thể cho bệnh tay chân miệng.
  • Sốt cỏ khô, còn được gọi là viêm mũi dị ứng, gây ra các dấu hiệu và triệu chứng giống như cảm lạnh, như sổ mũi, ngứa mắt, nghẹt mũi, hắt hơi và áp lực xoang. Nhưng không như cảm lạnh, sốt cỏ khô không phải do virus gây ra. Sốt cỏ khô là do phản ứng dị ứng với các chất gây dị ứng ngoài trời hoặc trong nhà, chẳng hạn như phấn hoa, mạt bụi hoặc những vệt da nhỏ và nước bọt của mèo, chó và các động vật khác có lông hoặc lông (lông thú cưng).
  • Các vấn đề về nhịp tim (rối loạn nhịp tim) xảy ra khi các xung động điện không hoạt động bình thường, khiến tim đập quá nhanh, quá chậm hoặc không đều. Rối loạn nhịp tim có thể có cảm giác đánh trống ngực, tim đập nhanh và có thể vô hại. Tuy nhiên, một vài trường hợp rối loạn nhịp tim có thể gây phiền toái - thậm chí đe dọa đến tính mạng.
  • Cơn đau tim xảy ra khi một nhánh động mạch cung cấp máu và oxy bị tắc nghẽn. Chất béo tích tụ theo thời gian, hình thành các mảng bám trong động mạch tim. Nếu một mảng bám bị vỡ, cục máu đông có thể hình thành và làm tắc nghẽn động mạch, gây ra cơn đau tim. Trong cơn đau tim, các mô trong cơ tim sẽ chết do thiếu lưu lượng máu qua các động mạch tim.
  • Suy tim, đôi khi được gọi là suy tim sung huyết, xảy ra khi cơ tim không bơm máu tốt như bình thường. Một số tình trạng, chẳng hạn như các động mạch trong tim bị thu hẹp (bệnh động mạch vành) hoặc huyết áp cao, dần khiến tim quá yếu hoặc cứng để có thể làm đầy và bơm máu hiệu quả.
  • Nóng rát ngực là cảm giác đau rát ở ngực, ngay sau xương ức. Cơn đau thường tệ hơn sau khi ăn, vào buổi tối hoặc khi nằm hay cúi xuống. Nóng rát ngực thường thỉnh thoảng xảy ra và không có lý do để cảnh báo. Hầu hết chúng ta có thể kiểm soát sự khó chịu của chứng nóng rát ngực bằng cách thay đổi lối sống và các loại thuốc không kê đơn.
  • Rôm đỏ/Miliaria rubra (A), một loại phát ban do nhiệt, xuất hiện dưới dạng các cụm màu đỏ của các vết sưng nhỏ giống như mụn nước có thể gây ngứa dữ dội. Rôm mụn nước/Miliaria crystallina (B), một loại phát ban nhiệt khác, xuất hiện dưới dạng các vết sưng chứa đầy dịch, không có các dấu hiệu hoặc triệu chứng khác. Rôm sảy - còn được gọi là nhiệt gai và miliaria - không chỉ gặp ở trẻ sơ sinh. Nó cũng ảnh hưởng đến người lớn, đặc biệt là trong thời tiết nóng ẩm. Rôm sảy phát triển khi lỗ chân lông bị tắc nghẽn (ống dẫn mồ hôi) giữ mồ hôi dưới da. Rôm sảy thường tự biến mất.
  • Hội chứng huyết tán, tăng ure máu (HUS) xảy ra khi các mạch máu nhỏ trong thận bị tổn thương và viêm. Tổn thương có thể gây ra cục máu đông hình thành trong mạch máu. Các cục máu đông làm tắc nghẽn hệ thống lọc trong thận và dẫn đến suy thận, có thể đe dọa tính mạng. Bất cứ ai cũng có thể mắc HUS, nhưng phổ biến nhất ở trẻ nhỏ. Đa phần, HUS là do nhiễm một số chủng vi khuẩn Escherichia coli (E. coli). Triệu chứng đầu tiên của dạng HUS này là thường tiêu chảy nhiều ngày nhưng không phải lúc nào cũng có máu. HUS cũng có thể được gây ra bởi các bệnh nhiễm trùng khác, một số loại thuốc hoặc tình trạng như mang thai, ung thư hoặc bệnh tự miễn. Trong một số trường hợp, HUS do một số đột biến gen nhất định. Những dạng HUS này thường không gây tiêu chảy.
  • Bệnh trĩ là tình trạng các tĩnh mạch bị sưng ở trực tràng dưới. Bệnh trĩ nội thường không đau, nhưng có xu hướng chảy máu. Bệnh trĩ ngoại có thể gây đau. Bệnh trĩ là tình trạng các tĩnh mạch bị sưng phình ở hậu môn và trực tràng dưới tương tự như giãn tĩnh mạch. Bệnh trĩ có thể phát triển bên trong trực tràng (trĩ nội) hoặc dưới da xung quanh hậu môn (trĩ ngoại). Gần ba trên bốn người trưởng thành sẽ bị bệnh trĩ theo thời gian.
  • Một đĩa đệm bị thoát vị là tình trạng một trong những đĩa đệm nằm giữa các đốt xương (đốt sống) xếp chồng lên nhau tạo nên cột sống gặp vấn đề. Một đĩa đệm cột sống có phần trung tâm mềm, giống như thạch (nhân) được bọc trong các vòng sợi cơ (annulus). Đôi khi được gọi là trượt đĩa đệm hoặc vỡ đĩa đệm, thoát vị đĩa đệm xảy ra khi một số nhân nhầy thoát ra khỏi vị trí bình thường qua vết rách trong vòng sợi. Thoát vị đĩa đệm, có thể xảy ra ở bất kỳ phần nào của cột sống, có thể gây kích thích dây thần kinh gần đó. Tùy thuộc vào vị trí của đĩa đệm bị thoát vị, nó có thể dẫn đến đau, tê hoặc yếu ở cánh tay hoặc chân.
  • Rách labral hông liên quan đến vòng sụn (labrum) theo vành ngoài của ổ khớp hông của bạn. Ngoài việc đệm khớp hông, labrum hoạt động giống như một con dấu cao su hoặc miếng đệm để giúp giữ bóng ở đầu xương đùi của bạn một cách an toàn trong ổ cắm hông của bạn. Các vận động viên tham gia vào các môn thể thao như bóng đá, bóng vầu dục, golf và múa ba lê có nguy cơ cao bị rách labral hông. Cấu trúc bất thường của hông cũng có thể dẫn đến rách labral hông.
  • Nổi mề đay, một phản ứng trên da gây ra các vết ngứa, các đốm lớn nhỏ. Mề đay có thể khởi phát bởi nhiều tác nhân và tình huống khác nhau, kể cả việc tiếp xúc với một số loại thực phẩm hoặc thuốc. Phù mạch có thể xuất hiện cùng mề đay hoặc xuất hiện một mình, gây sưng ở các lớp sâu trong da, thường xuất hiện quanh mặt và môi. Mề đay và phù mạch rất phổ biến. Chúng thường vô hại, sẽ biến mất trong vòng một ngày và không để lại bất kỳ dấu vết lâu dài nào dù không điều trị. Mề đay và phù mạch thường được điều trị bằng thuốc kháng histamine. Phù mạch có thể đe dọa tính mạng nếu họng hoặc lưỡi sưng nề, gây khó thở.
  • Bệnh cường giáp (tuyến giáp hoạt động quá mức) xảy ra khi tuyến giáp của bạn sản xuất quá nhiều hormone thyroxine (hormone tuyến giáp). Bệnh cường giáp có thể đẩy nhanh quá trình trao đổi chất của cơ thể, khiến sụt cân không chủ ý và nhịp tim nhanh hoặc không đều. Hiện có một số phương pháp điều trị cho bệnh cường giáp. Các bác sĩ sử dụng thuốc chống tuyến giáp và iốt phóng xạ để làm chậm quá trình sản xuất hormone tuyến giáp. Đôi khi, điều trị cường giáp bao gồm cả phẫu thuật để loại bỏ tất cả hoặc một phần của tuyến giáp.
  • Suy giáp (tuyến giáp hoạt động kém) là tình trạng tuyến giáp không sản sinh đủ một số hormone quan trọng. Suy giáp có thể không gây ra các triệu chứng đáng chú ý trong giai đoạn đầu. Theo thời gian, suy giáp không được điều trị có thể gây ra một số vấn đề sức khỏe, chẳng hạn như béo phì, đau khớp, vô sinh và bệnh tim.
  • Bệnh chốc lở là một bệnh nhiễm trùng da phổ biến và rất dễ lây, chủ yếu gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ em. Bệnh chốc lở thường xuất hiện dưới dạng vết loét đỏ trên mặt, đặc biệt là quanh mũi và miệng, trên bàn tay, bàn chân. Các vết loét sau khi vỡ ra sẽ hình thành lớp vỏ màu vàng mật ong. Điều trị bằng kháng sinh thường được khuyến nghị để ngăn ngừa sự lây lan của bệnh chốc lở sang người khác.
  • Trào ngược ở trẻ sơ sinh xảy ra khi thức ăn bị trào ngược từ dạ dày, gây ra nôn ở trẻ. Đôi khi được gọi là trào ngược dạ dày thực quản (GER), tình trạng hiếm khi nghiêm trọng và dần ít đi khi trẻ lớn lên. Nếu trào ngược ở trẻ sơ sinh tiếp tục sau 18 tháng tuổi thì đây là tình trạng bất thường. Trào ngược xảy ra ở trẻ sơ sinh khỏe mạnh nhiều lần trong ngày. Nếu trẻ em khỏe mạnh, thoải mái và phát triển tốt, trào ngược không phải là vấn đề đáng lo ngại. Tuy hiếm, nhưng, trào ngược ở trẻ sơ sinh có thể là dấu hiệu của một vấn đề y tế chẳng hạn như dị ứng, tắc nghẽn trong hệ thống tiêu hóa hoặc bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD).
  • Cúm là một bệnh nhiễm siêu vi tấn công hệ hô hấp - mũi, cổ họng và phổi. Cúm không giống với virus "cúm" dạ dày gây tiêu chảy và nôn mửa. Đối với hầu hết mọi người, cúm tự khỏi. Nhưng đôi khi, cúm và các biến chứng của nó có thể gây tử vong. Những người có nguy cơ cao bị biến chứng cúm bao gồm:
    • Trẻ nhỏ dưới 5 tuổi và đặc biệt là trẻ dưới 12 tháng tuổi.
    • Người lớn trên 65 tuổi
    • Những người sống tại viện dưỡng lão và các cơ sở chăm sóc dài hạn khác
    • Phụ nữ mang thai và phụ nữ hai tuần sau sinh
    • Người có hệ miễn dịch yếu
    • Người mắc các bệnh mãn tính, như hen suyễn, bệnh tim, bệnh thận, bệnh gan và tiểu đường
    • Người béo phì nặng, có chỉ số khối cơ thể (BMI) từ 40 trở lên
  • Móng chân mọc ngược là tình trạng phổ biến, trong đó, góc hoặc cạnh của móng chân mọc vào thịt. Gây đau, đỏ, sưng, đôi khi là nhiễm trùng. Thường ngón chân cái bị tình trạng móng mọc ngược. Nếu bị tiểu đường hoặc bệnh khác khiến lưu lượng máu đến chân kém, nguy cơ cao là bạn sẽ bị biến chứng móng chân mọc ngược.
  • Viêm bàng quang kẽ là một tình trạng mãn tính gây áp lực lên bàng quang, làm đau bàng quang và đôi khi đau vùng chậu. Cơn đau dao động từ khó chịu nhẹ đến đau dữ dội. Tình trạng này là một phần trong loạt các bệnh được gọi là hội chứng đau bàng quang. Bàng quang là một cơ quan rỗng, nơi chứa nước tiểu. Bàng quang giãn nở cho đến khi nó căng đầy, sau đó báo hiệu cho não rằng đã đến lúc đi tiểu, trao đổi thông tin qua các dây thần kinh vùng chậu. Điều này tạo ra sự thôi thúc đi tiểu cho hầu hết mọi người. Với viêm bàng quang kẽ, các tín hiệu này bị xáo trộn - bạn cảm thấy cần đi tiểu thường xuyên hơn và lượng nước tiểu nhỏ.
  • Bệnh phổi mô kẽ chỉ một nhóm các rối loạn, hầu hết trong số đó gây ra sẹo tiến triển của mô phổi. Sẹo do bệnh phổi mô kẽ gây ảnh hưởng đến khả năng thở và nhận đủ oxy vào máu. Có thể mắc bệnh phổi mô kẽ do tiếp xúc lâu với các vật liệu nguy hiểm, chẳng hạn như amiăng. Một số loại bệnh tự miễn, chẳng hạn như viêm khớp dạng thấp, cũng có thể gây ra bệnh phổi mô kẽ. Một khi sẹo phổi đã xảy ra, thường thì không thể đảo ngược.
  • Thiếu máu cục bộ đường ruột là một loạt các tình trạng xảy ra khi lưu lượng máu đến ruột giảm do mạch máu bị chặn, thường là động mạch. Thiếu máu cục bộ đường ruột có thể ảnh hưởng đến ruột non, ruột già (đại tràng) hoặc cả hai. Thiếu máu cục bộ ruột là một tình trạng nghiêm trọng gây đau đớn và ảnh hưởng đến hoạt động của ruột. Trong trường hợp nặng, mất máu đến ruột có thể gây tổn hại mô ruột và dẫn đến tử vong.
  • Tắc ruột là sự tắc nghẽn ngăn thức ăn hoặc chất lỏng đi qua ruột non hoặc ruột già (đại tràng). Nguyên nhân gây tắc ruột có thể bao gồm các dải mô xơ (bám dính) ở bụng hình thành sau phẫu thuật, ruột bị viêm (bệnh Crohn), túi bị nhiễm trùng trong ruột (viêm túi thừa), thoát vị và ung thư ruột kết.
  • Lồng ruột là chứng bệnh nghiêm trọng trong đó một đoạn ruột chui vào lòng của một đoạn ruột kế cận. Hiện tượng này thường chặn thức ăn hoặc chất lỏng đi qua. Lồng ruột cũng ngăn nguồn cung cấp máu đến phần ruột bị ảnh hưởng, có thể dẫn đến rách ruột (thủng), nhiễm trùng và chết mô ruột.
  • Mắt với uvea UVea là một lớp mô bên dưới màu trắng của mắt (màng cứng). Gồm ba phần: mống mắt, là phần màu của mắt; lớp màng đệm, là lớp mạch máu và mô liên kết giữa lớp màng cứng và võng mạc; và cơ thể mật, tiết ra chất lỏng trong suốt (thủy dịch) vào mắt. Viêm mống mắt là tình trạng viêm ảnh hưởng đến vòng màu quanh đồng tử mắt (mống mắt). Mống mắt là phần của lớp giữa của mắt (uvea), vì vậy viêm mống mắt là một loại viêm màng bồ đào, còn được gọi là viêm màng bồ đào trước. Viêm mống mắt, loại viêm màng bồ đào phổ biến nhất, ảnh hưởng đến phía trước mắt. Nguyên nhân thường không được biết. Nó có thể là kết quả của một tình trạng mãn tính tiềm ẩn hoặc yếu tố di truyền.
  • Hội chứng ruột kích thích (IBS) là một rối loạn phổ biến ảnh hưởng đến ruột già. Các dấu hiệu và triệu chứng bao gồm chuột rút, đau bụng, đầy hơi và tiêu chảy hoặc táo bón hoặc cả hai. IBS là một tình trạng mãn tính. Chỉ một số ít người bị IBS có các dấu hiệu và triệu chứng nghiêm trọng. Một số người có thể kiểm soát các triệu chứng của họ bằng cách quản lý chế độ ăn uống, lối sống và khống chế căng thẳng. Các triệu chứng nghiêm trọng hơn có thể được điều trị bằng thuốc và tư vấn. IBS không gây ra thay đổi trong mô ruột hoặc làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng.
  • Viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ xảy ra khi lưu lượng máu đến một phần của ruột già (đại tràng) bị giảm, thường là do các mạch máu bị thu hẹp hoặc tắc nghẽn (động mạch). Lưu lượng máu giảm không cung cấp đủ oxy cho các tế bào trong hệ tiêu hóa. Viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ có thể gây đau và có thể tổn hại đại tràng. Viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ có thể bị chẩn đoán sai vì bệnh này dễ bị nhầm lẫn với các vấn đề tiêu hóa khác.
  • Viêm giác mạc là tình trạng viêm giác mạc - mô mỏng, hình vòm ở phía trước nhãn cầu, bao phủ đồng tử và mống mắt. Viêm giác mạc có thể có hoặc không liên quan đến nhiễm trùng. Viêm giác mạc không nhiễm trùng có thể được gây ra bởi một chấn thương tương đối nhỏ, do đeo kính áp tròng quá lâu hoặc do có dị vật trong mắt. Viêm giác mạc nhiễm trùng có thể do vi khuẩn, vi rút, nấm và ký sinh trùng. Nếu không được điều trị hoặc nếu nhiễm trùng nặng, viêm giác mạc có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng có thể làm hỏng thị lực của bạn vĩnh viễn.
  • Nhiễm trùng thận (viêm đài bể thận) là một loại nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) thường bắt đầu ở niệu đạo hoặc bàng quang và đến một hoặc cả hai quả thận. Nhiễm trùng thận cần được chăm sóc y tế kịp thời. Nếu không được điều trị đúng cách, nhiễm trùng thận có thể làm hỏng thận vĩnh viễn hoặc vi khuẩn có thể lan vào máu gây nhiễm trùng đe dọa đến tính mạng.
  • Sỏi thận là những tinh thể rắn tạo nên từ các khoáng chất và muối hình thành bên trong thận. Sỏi thận do nhiều nguyên nhân và có thể ảnh hưởng đến bất kỳ phần nào của đường tiết niệu - từ thận đến bàng quang. Thông thường, sỏi hình thành khi nước tiểu bị lắng cặn, khiến các khoáng chất kết tinh và dính lại với nhau. Bị sỏi thận có thể khá đau đớn, nhưng sỏi thường không gây ra tổn hại về sau nếu được phát hiện kịp thời. Tùy tình trạng, có thể chỉ cần uống thuốc giảm đau và uống nhiều nước là ổn. Trong các trường hợp khác - ví dụ, nếu sỏi bị kẹt trong đường tiết niệu, có liên quan đến nhiễm trùng tiết niệu hoặc gây biến chứng - có thể cần phải phẫu thuật.
  • Túi thanh mạc là những túi nhỏ chứa đầy chất lỏng (thể hiện bằng màu xanh) làm giảm ma sát giữa các bộ phận chuyển động khớp của cơ thể. Viêm túi thanh mạc ở khớp gối là viêm hoặc kích thích của một hoặc nhiều túi thanh mạc ở đầu gối. Viêm túi thanh mạc ở khớp gối là tình trạng viêm một túi nhỏ chứa đầy chất lỏng (túi thanh mạc) nằm gần khớp gối. Bất kỳ túi thanh mạc nào trong đầu gối đều có thể bị viêm, nhưng viêm túi thanh mạc ở khớp gối thường gặp ở xương bánh chè hoặc ở phía bên trong đầu gối bên dưới khớp. Viêm túi thanh mạc ở khớp gối gây đau và có thể hạn chế khả năng vận động.
  • Người mắc chứng không dung nạp đường lactose không thể tiêu hóa hoàn toàn đường (lactose) trong sữa. Hậu quả là bị tiêu chảy, đầy hơi sau khi ăn hoặc uống các sản phẩm từ sữa. Tình trạng này, thường vô hại, nhưng các triệu chứng gây không thoải mái. Nhiều người có nồng độ lactase thấp nhưng có thể tiêu hóa các sản phẩm sữa mà không gặp vấn đề gì. Tuy nhiên, nếu thực sự không dung nạp đường lactose, sự thiếu hụt lactase sẽ dẫn đến các triệu chứng, sau khi ăn thực phẩm từ sữa.
  • Viêm thanh quản là tình trạng viêm hộp thoại (thanh quản) do sử dụng quá mức, kích ứng hoặc nhiễm trùng. Bên trong thanh quản là dây thanh âm - hai nếp gấp của niêm mạc bao phủ cơ và sụn. Thông thường, dây thanh âm mở và đóng trơn tru, tạo thành âm thanh thông qua chuyển động và rung động. Nhưng với viêm thanh quản, dây thanh âm bị viêm hoặc bị tấy. Điều này gây ra sự biến dạng của âm thanh được tạo ra bởi không khí đi qua chúng. Kết quả là giọng nói bị khàn. Trong một số trường hợp viêm thanh quản, khiến giọng nói có thể gần như không thể phát hiện được. Viêm thanh quản có thể ngắn (cấp tính) hoặc kéo dài (mãn tính). Hầu hết các trường hợp viêm thanh quản gây ra bởi nhiễm virus tạm thời hoặc mỏi giọng và không nghiêm trọng. Khàn giọng dai dẳng đôi khi có thể báo hiệu một tình trạng bệnh tiềm ẩn nghiêm trọng hơn.
  • Mắt lười (nhược thị) là tình trạng giảm thị lực ở một bên mắt do sự phát triển thị giác bất thường trong những năm đầu đời. Mắt yếu hơn – hoạt động kém - thường hơi lệch vào bên trong hoặc hướng ra ngoài. Chứng mắt lười thường phát triển trong khoảng từ khi trẻ sinh ra đến 7 tuổi. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây giảm thị lực ở trẻ em. Mắt lười hiếm khi ảnh hưởng đến cả hai mắt.
  • Bệnh bạch cầu là bệnh ung thư các mô tạo máu của cơ thể, bao gồm tủy xương và hệ bạch huyết. Các tế bào bạch cầu giúp chống lại các bệnh nhiễm trùng - thường phát triển và phân chia một cách có trật tự, vì vậy các tế bào bạch cầu vô cùng quan trọng. Nhưng ở những người mắc bệnh bạch cầu, tủy xương sản sinh ra các tế bào bạch cầu bất thường, không thực hiện đúng chức năng.
  • Bệnh Lyme được gây ra bởi bốn loài vi khuẩn chính. Borrelia burgdorferi và Borrelia mayonii gây ra bệnh Lyme ở Hoa Kỳ, trong khi đó Borrelia afzelii và Borrelia garinii là nguyên nhân hàng đầu ở Châu Âu và Châu Á. Bệnh do ve phổ biến nhất ở những vùng này, bệnh Lyme lây truyền qua vết cắn của ve chân đen bị nhiễm bệnh, thường được gọi là ve hươu. Khả năng mắc bệnh Lyme sẽ cao hơn nếu sống hoặc dành thời gian ở những vùng cỏ và nhiều cây cối, nơi bọ ve mang bệnh Lyme phát triển mạnh.
  • Phù bạch huyết là tình trạng sưng thường xảy ra ở một trong hai cánh tay hoặc chân. Đôi khi sưng cả hai cánh tay hoặc cả hai chân. Phù bạch huyết thường gây ra bởi sự loại bỏ hoặc gây tổn thương tới các hạch bạch huyết trong quá trình điều trị ung thư. Đây là hậu quả của sự tắc nghẽn trong hệ thống bạch huyết, một phần của hệ thống miễn dịch. Sự tắc nghẽn ngăn không cho dịch bạch huyết lưu chuyển, tích tụ lại gây phù.
  • Đau đầu do lạm dụng thuốc hoặc đau đầu hồi ứng xảy ra do sử dụng thường xuyên và lâu dài thuốc điều trị đau đầu như thuốc trị đau nửa đầu. Thuốc giảm đau giúp hỗ trợ điều trị nhức đầu không thường xuyên. Tuy nhiên, nếu sử dụng hơn 1 hoặc 2 ngày một tuần, có thể gây ra bệnh đau đầu do lạm dụng thuốc. Nếu bị rối loạn đau đầu, bất kỳ loại thuốc nào được sử dụng để giảm đau đều có thể gây đau đầu do lạm dụng thuốc. Đau đầu do lạm dụng thuốc thường dừng lại khi ngừng dùng thuốc giảm đau.
  • Bệnh Meniere là một rối loạn của tai trong có thể dẫn đến hoa mắt chóng mặt và mất thính lực. Đa phần, bệnh Meniere chỉ ảnh hưởng đến một tai. Bệnh Meniere có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng thường bắt đầu giữa tuổi trẻ và trung niên. Đây là bệnh mãn tính, nhưng các phương pháp điều trị có thể giúp giảm bớt triệu chứng và giảm thiểu ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống.
  • Viêm màng não là tình trạng viêm màng (màng não) bao quanh não và tủy sống. Sưng do viêm màng não thường gây ra các triệu chứng như đau đầu, sốt và cứng cổ. Một số trường hợp trong một vài tuần viêm màng não sẽ cải thiện mà không cần điều trị. Những trường hợp khác có thể đe dọa tính mạng và cần điều trị bằng kháng sinh khẩn cấp.
  • Đau bụng kinh là tình trạng đau nhói hoặc co thắt ở bụng dưới. Nhiều phụ nữ bị đau bụng kinh trước và trong thời kỳ kinh nguyệt. Đối với một số người, cơn đau bụng kinh chỉ làm họ hơi khó chịu. Tuy nhiên với nhiều người khác, cơn đau có thể ảnh hưởng đến các hoạt động hàng ngày trong một vài ngày mỗi tháng. Các tình trạng như lạc nội mạc tử cung hoặc u xơ tử cung có thể gây ra đau bụng kinh.
  • Đau xương đốt bàn chân là tình trạng xương khớp bàn chân bị đau và viêm. Bạn có thể mắc phải bệnh này nếu tham gia vào các hoạt động liên quan đến chạy, nhảy. Cũng có những nguyên nhân khác, bao gồm biến dạng bàn chân, giày quá chật hoặc quá lỏng. Nhìn chung, dù không nghiêm trọng, nhưng bệnh đau xương đốt bàn chân có thể ảnh hưởng đến bạn. Điều trị tại nhà, chẳng hạn như chườm đá và nghỉ ngơi, sẽ có thể giảm bớt các triệu chứng.
  • Chứng đau nửa đầu Migraine có thể gây đau nhói dữ dội hoặc đau theo nhịp mạch đập, thường ở một bên đầu. Nó thường đi kèm với buồn nôn, nôn và cực kỳ nhạy cảm với ánh sáng và âm thanh. Đối với một số người, một triệu chứng cảnh báo được gọi là tiền triệu xảy ra trước hoặc khi bị đau đầu. Tiền triệu có thể bao gồm các rối loạn thị giác, chẳng hạn như chớp sáng hoặc điểm mù hoặc các rối loạn khác, chẳng hạn như ngứa ran ở một bên mặt hoặc ở cánh tay hoặc chân, gặp khó khăn khi nói.
  • Migraine tiền triệu (còn gọi là Migraine cổ điển) là cơn đau đầu tái phát xảy ra sau hoặc cùng lúc với các rối loạn cảm giác được gọi là tiền triệu thoáng báo. Những rối loạn này có thể bao gồm chớp nháy, điểm mù và thay đổi tầm nhìn khác hoặc ngứa ran trong tay hoặc mặt. Phương pháp điều trị chứng Migraine tiền triệu và Migraine không tiền triệu (còn gọi là Migraine thông thường) thường giống nhau.
  • Mittelschmerz là tình trạng đau bụng dưới một bên liên quan đến rụng trứng. Từ tiếng Đức mittelschmerz có nghĩa là “đau giữa kỳ” xảy ra giữa một chu kỳ kinh nguyệt, khoảng 14 ngày trước chu kỳ kinh nguyệt tiếp theo.
  • Bệnh bạch cầu đơn nhân truyền nhiễm thường được gọi là bệnh hôn. Vi-rút gây ra bệnh đơn nhân lây truyền qua nước bọt, do đó có thể nhiễm bệnh vì hôn, nhưng cũng có thể bị phơi nhiễm qua ho hoặc hắt hơi, hoặc bằng cách dùng chung ly hoặc dụng cụ ăn uống với người bị bệnh. Trẻ con và thanh thiếu niên rất dễ mắc bệnh bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng.
  • U dây thần kinh Morton là tình trạng đau đớn ảnh hưởng đến dây thần kinh của bàn chân và thường xảy ra ở khu vực giữa ngón chân thứ ba và thứ tư. U dây thần kinh Morton liên quan đến sự dày lên của các mô xung quanh một trong những dây thần kinh kéo đến ngón chân.
  • Bất kỳ loại phương tiện giao thông cũng có thể gây ra say tàu xe. Nó có thể đến bất ngờ, tiến triển từ cảm giác khó chịu sang toát mồ hôi lạnh, chóng mặt và nôn mửa. Nó thường đỡ ngay khi phương tiện dừng lại.
  • Ung thư miệng là ung thư phát triển ở bất kỳ bộ phận nào cấu thành miệng (khoang miệng). Ung thư miệng có thể xảy ra ở:
    • Môi
    • Lợi
    • Lưỡi
    • Lớp lót bên trong của má
    • Vòm miệng
    • Sàn miệng (dưới lưỡi)
    Ung thư xảy ra trong miệng thường được gọi là ung thư miệng hoặc ung thư khoang miệng. Ung thư miệng được xếp vào nhóm ung thư vùng đầu và cổ.
  • Hội chứng đau cân cơ là một rối loạn đau mạn tính (đau kinh niên). Trong tình trạng này, áp lực lên các điểm nhạy cảm của cơ bắp gây ra đau ở cơ và đôi khi ở những phần dường như không liên quan khác của cơ thể. Đây được gọi là đau xuất chiếu (đau ở vị trí khác với vị trí bị tổn thương)
  • Polyp mũi là một u có cuống mềm, không đau, không phải là ung thư phát triển trên niêm mạc mũi hoặc xoang. Chúng được gây ra bởi tình trạng trạng viêm mạn tính do bệnh hen suyễn, nhiễm trùng, dị ứng, nhạy cảm với thuốc hoặc các rối loạn miễn dịch nhất định theo định kỳ. Polyp mũi nhỏ có thể không gây ra triệu chứng. Tuy nhiên, polyp mũi lớn hơn có thể gây khó thở, không ngửi được mùi, và gây nhiễm trùng thường xuyên. Polyp mũi có thể ảnh hưởng tới bất kì ai, nhưng phổ biến hơn là ở người lớn.
  • Cận thị là tình trạng thị lực khá phổ biến, trong đó người bệnh chỉ nhìn thấy vật ở gần mà không nhìn rõ vật ở xa. Hiện tượng này xảy ra khi hình dạng mắt làm các tia sáng tới võng mạc bị bẻ cong, không còn chính xác, tia sáng hội tụ ở trước võng mạc thay vì phải hội tụ tại đúng võng mạc.
  • Viêm mũi mạn tính là tình trạng hắt hơi mãn tính hoặc tắc mũi, chảy nước mũi nhỏ giọt mà không có nguyên nhân cụ thể. Những triệu chứng của viêm mũi mạn tính khá giống với triệu chứng của viêm mũi dị ứng, hay còn gọi là sốt cỏ khô nhưng không có dấu hiệu của việc bị dị ứng trong đó.
  • Đau dạ dày không viêm loét là một thuật ngữ cho các dấu hiệu và triệu chứng khó tiêu không có nguyên nhân rõ ràng. Đau dạ dày không viêm loét còn được gọi là chứng khó tiêu chức năng hoặc chứng khó tiêu không điều trị. Đau dạ dày không viêm loét rất phổ biến và có thể kéo dài.
  • Viêm dây thần kinh thị giác là tình trạng viêm gây tổn thương dây thần kinh thị giác – bó sợi thần kinh truyền thông tin hình ảnh từ mắt đến não. Viêm dây thần kinh thị giác có liên quan đến bệnh đa xơ cứng (MS), một căn bệnh gây viêm và tổn thương dây thần kinh trong não và tủy sống. Hầu hết những người có một lần bị bệnh đều khôi phục thị lực bình thường. Điều trị bằng thuốc steroid giúp tăng tốc độ phục hồi thị lực sau khi mắc bệnh.
  • Viêm tinh hoàn là bệnh viêm (sưng) một hoặc hai tinh hoàn. Viêm tinh hoàn gây đau và có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản. Thuốc có thể chữa trị được viêm tinh hoàn và làm giảm những triệu chứng của viêm tinh hoàn do virus nhưng cần vài tuần để cơn đau bìu biến mất.
  • Hạ huyết áp tư thế đứng hay còn gọi là hạ huyết áp tư thế là một dạng của huyết áp thấp xảy ra khi đứng lên sau khi ngồi hoặc nằm. Hạ huyết áp tư thế đứng có thể làm bạn cảm thấy chóng mặt hoặc choáng váng và thậm chí có thể bị ngất. Hạ huyết áp tư thế đứng có thể chỉ bị nhẹ và kéo dài trong vài phút. Tuy nhiên nếu bị trong thời gian kéo dài có thể là tiềm ẩn của những vấn đề nghiêm trọng hơn và cần đi khám bác sĩ.
  • Viêm xương khớp là dạng viêm khớp phổ biến nhất, ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới. Viêm xương khớp xảy ra khi lớp sụn bảo vệ (sụn có chức năng đệm) bị mòn đi theo thời gian. Viêm xương khớp có thể ở bất kì cơ khớp nào, tuy nhiên thường gặp phải ở các khớp tay, đầu gối, hông hay cột sống. Viêm xương khớp do thoái hóa không thể chữa trị được, nhưng bạn có thể ngăn chặn sự tiến triển của bệnh bằng cách giữ cân nặng hợp lý và tập các bài tập thể dục phù hợp thường xuyên.
  • Viêm xương sụn bóc tách là tình trạng phần sụn và phần xương nằm dưới sụn bị tách ra một phần, thậm chí đôi khi chúng còn tách rời hẳn nhau ra do không được cung cấp đủ máu. Viêm xương sụn bóc tách xảy ra ở hầu hết ở trẻ em và thanh niên. Bệnh này thường xảy ra nhất ở đầu gối, nhưng cũng có thể xảy ra ở các khớp khác, bao gồm cả khuỷu tay, mắt cá chân.
  • Ung thư buồng trứng là một loại ung thư bắt đầu ở buồng trứng. Ung thư buồng trứng thường không bị phát hiện cho đến khi nó lan rộng trong khung chậu và bụng. Ở giai đoạn muộn này, ung thư buồng trứng khó điều trị hơn. Ung thư buồng trứng nếu được phát hiện sớm có thể điều trị hiệu quả.
  • U nang buồng trứng là những khối u ở trong trứng hoặc trên bề mặt buồng trứng có chứa dịch nhày. U nang buồng trứng thường không có hại. Hầu hết sẽ biến mất mà không cần điều trị trong khoảng vài tháng. Tuy nhiên, những khối u đã vỡ có thể gây ra những triệu chứng nguy cấp.
  • Bàng quang hoạt động quá mức là vấn đề liên quan đến chức năng dự trữ của bàng quang gây ra đi tiểu gấp đột ngột. Tiểu gấp dẫn đến khó khăn trong việc nín tiểu và bàng quang hoạt động quá mức có thể dẫn đến tiểu không tự chủ.
  • Viêm tụy là viêm ở tuyến tụy. Tuyến tụy là một tuyến dài và bằng phẳng nằm phía sau dạ dày ở bụng trên. Tuyến tụy sản xuất các enzyme giúp tiêu hóa và hormone giúp điều chỉnh cách cơ thể bạn xử lý đường (glucose). Viêm tụy có thể xảy ra như viêm tụy cấp - có nghĩa là nó xuất hiện đột ngột và kéo dài trong nhiều ngày. Hoặc viêm tụy có thể xảy ra như viêm tụy mãn tính, đó là viêm tụy xảy ra trong nhiều năm. Các trường hợp viêm tụy nhẹ có thể hết mà không cần điều trị, nhưng trường hợp nặng có thể gây ra các biến chứng đe dọa tính mạng.
  • Hoảng loạn là một giai đoạn đột ngột của nỗi sợ hãi mãnh liệt gây ra các phản ứng vật lý nghiêm trọng khi không có nguy hiểm thực sự hoặc nguyên nhân rõ ràng. Các hoảng loạn có thể rất đáng sợ. Khi các cơn hoảng loạn xảy ra, bạn có thể nghĩ rằng mình đang mất kiểm soát, đau tim hoặc thậm chí tử vong. Nếu bạn đã từng bị hoảng loạn, các cơn hoảng loạn bất ngờ xảy ra và trải qua khoảng thời gian dài trong nỗi sợ hãi liên tục về một cuộc tấn công khác, bạn có thể có một tình trạng gọi là rối loạn hoảng loạn. Mặc dù các hoảng loạn tự chúng không đe dọa đến tính mạng, nhưng chúng có thể rất đáng sợ và ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống. Nhưng điều trị có thể đem lại hiệu quả.
  • Nhiễm Pavorvirus phổ biến xảy ra ở trẻ em và dễ lây lan - nó còn có tên khác là bệnh ban đỏ nhiễm trùng hoặc bệnh thứ năm. Lý do được gọi là bệnh thứ năm vì nó đứng thứ năm trong số sáu bệnh liên quan đến ngoại ban nhiễm trùng ở trẻ em.
  • Viêm gân bánh chè là một chấn thương của gân nối xương bánh chè (patella) với xương ống chân. Gân bánh chè hoạt động với các cơ ở phía trước đùi để mở rộng đầu gối, để có thể đá, chạy và nhảy. Viêm gân bánh chè, còn được gọi là đầu gối của người nhảy, là phổ biến nhất ở các vận động viên có môn thể thao liên quan đến nhảy thường xuyên - chẳng hạn như bóng rổ và bóng chuyền. Tuy nhiên, ngay cả những người không tham gia các môn thể thao nhảy cũng có thể bị viêm gân bánh chè. Đối với hầu hết mọi người, điều trị viêm gân bánh chè bắt đầu bằng vật lý trị liệu để kéo dài và tăng cường các cơ xung quanh đầu gối.
  • Hội chứng đau xương bánh chè là đau ở phía trước đầu gối, xung quanh xương bánh chè (xương bánh chè). Đôi khi được gọi là "đầu gối của người chạy", nó phổ biến hơn ở những người tham gia các môn thể thao liên quan đến chạy và nhảy. Cơn đau đầu gối thường tăng khi bạn chạy, đi lên hoặc xuống cầu thang, ngồi trong thời gian dài hoặc ngồi xổm. Các phương pháp điều trị đơn giản - chẳng hạn như nghỉ ngơi và chườm đá - thường giúp ích, nhưng đôi khi cần phải tập vật lý trị liệu để giảm đau xương bánh chè.
  • Bệnh viêm vùng chậu (PID) là sự nhiễm trùng ở trong tử cung, ống dẫn trứng, buồng trứng và cổ tử cung. Bệnh không được điều trị có thể tạo ra các mô sẹo bị nhiễm trùng (áp xe) phát triển trong ống dẫn trứng và làm hư hại cơ quan sinh sản. Bệnh thường không có dấu hiệu hay triệu chứng. Chính vì vậy, người bệnh có thể không nhận ra mình mắc bệnh và cần phải được điều trị. Tình trạng này có thể được phát hiện khi người bệnh có vấn đề khi có thai hoặc nếu bạn bị nếu bạn bị đau vùng chậu mãn tính.
  • Loét dạ dày tá tràng là những vết thương hở phát triển trên niêm mạc dạ dày hoặc phần trên của ruột non. Triệu chứng thường gặp nhất của bệnh là những cơn đau bụng. Viêm loét dạ dày tá tràng bao gồm:
    • Viêm loét dạ dày xảy ra ở trong dạ dày
    • Viêm loét tá tràng xảy ra ở trong phần trên của ruột non (tá tràng)
  • Viêm màng ngoài tim là sưng và kích thích màng ngoài tim, màng mỏng bao quanh trái tim. Viêm màng ngoài tim thường gây đau ngực và đôi khi các triệu chứng khác. Cơn đau ngực dữ dội liên quan đến viêm màng ngoài tim xảy ra khi các lớp màng tim bị kích thích cọ sát vào nhau. Viêm màng ngoài tim thường bắt đầu đột ngột nhưng không kéo dài (cấp tính). Khi các triệu chứng phát triển dần dần hoặc kéo dài, viêm màng ngoài tim được coi là mạn tính. Hầu hết các trường hợp là nhẹ và thường tự cải thiện. Điều trị cho các trường hợp nặng hơn có thể bao gồm thuốc và hiếm khi phẫu thuật. Chẩn đoán và điều trị sớm có thể giúp giảm nguy cơ biến chứng lâu dài do viêm màng ngoài tim.
  • Bệnh thần kinh ngoại biên, hậu quả của tổn thương các dây thần kinh bên ngoài não và tủy sống (dây thần kinh ngoại biên), thường gây ra yếu, tê và đau, thường là ở tay và chân. Nó cũng có thể ảnh hưởng đến các khu vực khác của cơ thể. Những người bị bệnh thần kinh ngoại biên thường mô tả cơn đau là như đâm, nóng rát hoặc ngứa ran. Trong nhiều trường hợp, các triệu chứng được cải thiện, đặc biệt là trong trường hợp có thể điều trị. Thuốc có thể làm giảm cơn đau của bệnh thần kinh ngoại biên.
  • Chèn ép dây thần kinh xảy ra khi áp lực quá lớn lên dây thần kinh bởi các mô xung quanh, chẳng hạn như xương, sụn, cơ hoặc gân. Áp lực này làm gián đoạn chức năng của dây thần kinh, gây đau, ngứa ran, tê hoặc yếu. Nghỉ ngơi kết hợp với các phương pháp điều trị vừa phải khác, hầu hết mọi người đều hồi phục sau một chèn ép dây thần kinh trong vòng vài ngày hoặc vài tuần. Đôi khi, phẫu thuật là cần thiết để giảm đau và khỏi chèn ép dây thần kinh.
  • Đau mắt đỏ (viêm kết mạc) là tình trạng viêm hoặc nhiễm trùng màng trong suốt (kết mạc) chảy dọc mí mắt và che phủ phần trắng của nhãn cầu. Khi các mạch máu nhỏ trong kết mạc bị viêm, chúng sẽ rõ hơn. Đây là nguyên nhân khiến lòng trắng mắt của bạn xuất hiện màu đỏ hoặc hồng. Mặc dù đau mắt đỏ có thể gây khó chịu, nhưng nó hiếm khi ảnh hưởng đến thị lực của bạn. Phương pháp điều trị có thể giúp giảm bớt sự khó chịu của đau mắt đỏ. Bởi vì đau mắt đỏ có thể truyền nhiễm, chẩn đoán và điều trị sớm có thể giúp hạn chế sự lây lan của bệnh.
  • Viêm cân gan chân là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất của đau gót chân. Nó liên quan đến tình trạng viêm của một dải mô dày chạy dọc dưới chân và kết nối xương gót chân với ngón chân (plantar fascia). Viêm cân gan chân thường gây ra đau nhói thường xảy ra với những bước đầu tiên vào buổi sáng. Khi đứng dậy và di chuyển nhiều hơn, cơn đau thường giảm, nhưng nó có thể quay trở lại sau thời gian dài đứng hoặc sau khi ngồi dậy. Viêm cân gan chân là phổ biến hơn ở người chạy bộ. Ngoài ra, những người thừa cân và những người mang giày không được thiết kế tốt có nguy cơ bị viêm cân gan chân.
  • Mụn cóc gan bàn chân là những phát triển nhỏ thường xuất hiện ở gót chân hoặc các khu vực chịu trọng lượng khác của bàn chân bạn. Áp lực này cũng có thể khiến mụn cóc thực vật phát triển bên trong bên dưới lớp da cứng và dày (mô sẹo). Mụn cóc gan bàn chân là do HPV. Virus xâm nhập vào cơ thể thông qua những vết cắt nhỏ, vỡ hoặc những điểm yếu khác ở dưới chân. Hầu hết các mụn cóc gan bàn chân không phải là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng và thường biến mất mà không cần điều trị cuối cùng. Có thể thử các phương pháp điều trị tự chăm sóc hoặc gặp bác sĩ để loại bỏ mụn cóc.
  • Viêm màng phổi là tình trạng màng phổi - một màng bao gồm một lớp mô nằm bên trong khoang ngực và một lớp mô bao quanh phổi - bị viêm. Còn được gọi là pleuritis, viêm màng phổi gây đau ngực dữ dội (đau màng phổi), làm tồi tệ đi trong quá trình thở.
  • Viêm phổi là một bệnh nhiễm trùng làm viêm túi khí ở một hoặc cả hai phổi. Các túi khí có thể chứa đầy chất lỏng hoặc mủ (vật chất có mủ), gây ho với đờm hoặc mủ, sốt, ớn lạnh và khó thở. Một loạt các sinh vật, bao gồm vi khuẩn, vi rút và nấm, có thể gây viêm phổi. Viêm phổi có thể ở mức độ nghiêm trọng từ nhẹ đến đe dọa tính mạng. Nó là nghiêm trọng nhất đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, người già trên 65 tuổi và những người có vấn đề về sức khỏe hoặc hệ thống miễn dịch yếu.
  • Tràn khí màng phổi là việc phổi bị xẹp. Tràn khí màng phổi xảy ra khi không khí rò rỉ vào khoảng trống giữa phổi và thành ngực. Không khí này đẩy ra bên ngoài phổi của bạn. Tràn khí màng phổi có thể là xẹp phổi hoàn toàn hoặc xẹp chỉ một phần của phổi. Điều trị tràn khí màng phổi thường bao gồm chèn kim hoặc ống ngực giữa các xương sườn để loại bỏ không khí dư thừa. Tuy nhiên, tràn khí màng phổi nhỏ có thể tự lành.
  • Phát ban cây thường xuân độc được gây ra bởi một phản ứng dị ứng với một loại nhựa có tên là urushiol. Dầu này có trong lá, thân và rễ của cây thường xuân độc, sồi độc và sơn độc.
  • Thiếu thị lực màu là không thể nhìn thấy sự khác biệt giữa các màu nhất định, nhưng màu sắc vẫn được nhìn thấy. Nhiều người thường sử dụng thuật ngữ "mù màu" cho tình trạng này. Nhưng sự mù màu thực sự là rất hiếm - tức là khi mọi thứ được nhìn thấy đều ở trong các sắc thái của màu đen và trắng. Một số bệnh về mắt và một số loại thuốc cũng có thể gây ra thiếu thị lực màu.
  • Các cơn co thắt tâm thất sớm (PVCs) là những nhịp tim phụ bắt đầu ở một trong hai buồng bơm thấp hơn (tâm thất) của tim. Những nhịp đập thêm này làm gián đoạn nhịp tim đều đặn, đôi khi khiến bệnh nhân cảm thấy một nhịp đập yếu và không đều trong lồng ngực. Co thắt tâm thất sớm là phổ biến - chúng xảy ra ở nhiều người. Nó cũng được gọi là:
    • Phức hợp tâm thất sớm.
    • Nhịp đập sớm.
    • Ngoại tâm thu.
    Nếu thỉnh thoảng bị co thắt tâm thất sớm, nhưng nếu lại khỏe mạnh, có lẽ không có lý do gì để lo lắng và không cần điều trị. Nếu thường xuyên bị co thắt tâm thất sớm hoặc bệnh tim tiềm ẩn, có thể cần phải điều trị.
  • Hội chứng tiền kinh nguyệt (PMS) có rất nhiều dấu hiệu và triệu chứng, bao gồm thay đổi tâm trạng, vú mềm, thèm ăn, mệt mỏi, khó chịu và trầm cảm. Người ta ước tính rằng có đến 3 trong số 4 phụ nữ có kinh nguyệt đã trải qua một số dạng hội chứng tiền kinh nguyệt. Các triệu chứng có xu hướng tái phát có thể dự đoán được. Nhưng những thay đổi về thể chất và cảm xúc mà bạn gặp phải với hội chứng tiền kinh nguyệt có thể ít khi lưu ý được cho đến nghiêm trọng.
  • Lão thị là việc mất dần khả năng tập trung vào mắt vào các vật thể ở gần. Bệnh phát triển tự nhiên, thường là phần gây khó chịu của giai đoạn lão hóa. Chứng lão thị thường trở nên đáng chú ý ở độ tuổi từ đầu đến giữa 40 và tiếp tục xấu đi cho đến khoảng 65 tuổi. Có thể nhận thức được về lão thị khi bắt đầu cầm sách và báo với khoảng cách bằng độ dài cánh tay để có thể đọc chúng. Nên được kiểm tra mắt cơ bản có thể xác nhận bệnh lão thị. Có thể khắc phục tình trạng này bằng cách đeo kính mắt hoặc kính áp tròng. Cũng có thể xem xét đến việc phẫu thuật.
  • Viêm trực tràng là viêm niêm mạc trực tràng. Viêm trực tràng thường gặp ở những người mắc bệnh viêm ruột (bệnh Crohn hoặc viêm loét đại tràng). Nhiễm trùng lây qua đường tình dục là một nguyên nhân thường xuyên khác. Viêm trực tràng cũng có thể là một tác dụng phụ của xạ trị đối với một số bệnh ung thư.
  • Viêm tuyến tiền liệt là sưng và viêm tuyến tiền liệt, một tuyến có kích thước bằng quả óc chó nằm ngay dưới bàng quang ở nam giới. Tuyến tiền liệt sản xuất chất lỏng (tinh dịch) nuôi dưỡng và vận chuyển tinh trùng. Viêm tuyến tiền liệt ảnh hưởng đến nam giới ở mọi lứa tuổi nhưng có xu hướng phổ biến hơn ở nam giới từ 50 tuổi trở xuống. Tùy thuộc vào nguyên nhân, viêm tuyến tiền liệt có thể xuất hiện dần dần hoặc đột ngột. Nó có thể cải thiện nhanh chóng, tự khỏi hoặc điều trị. Một số loại viêm tuyến tiền liệt kéo dài trong nhiều tháng hoặc tiếp tục tái phát (viêm tuyến tiền liệt mãn tính).
  • Gút giả là một dạng viêm khớp đặc trưng bởi sưng đau đột ngột, đau ở một hoặc nhiều khớp. Những tình trạng này có thể kéo dài trong vài ngày hoặc vài tuần. Khớp bị ảnh hưởng phổ biến nhất là đầu gối. Không rõ tại sao dạng tinh thể hình thành trong khớp và gây ra gút giả, nhưng nguy cơ tăng theo tuổi. Phương pháp điều trị có thể giúp giảm đau và giảm viêm.
  • Viêm đại tràng màng giả hay còn được gọi là viêm đại tràng liên quan đến kháng sinh, hay viêm đại tràng C. difficile là viêm đại tràng liên quan đến sự phát triển quá mức của vi khuẩn Clostridium difficile (C. diff). Sự phát triển quá mức của C. difficile thường liên quan đến thời gian nằm viện gần đây, bao gồm điều trị bằng kháng sinh. Nhiễm C. difficile phổ biến hơn ở những người trên 65 tuổi.
  • Tắc mạch phổi là tình trạng bị nghẽn trong một trong những động mạch trong phổi. Trong đa số trường hợp, tắc mạch phổi gây ra bởi cục máu nghẽn đi đến phổi từ chân, hoặc hiếm gặp là từ các bộ phận khác của cơ thể.
  • Tăng áp động mạch phổi là một dạng tăng huyết áp, tác động tới động mạch phổi và tim phải. Một vài dạng của tăng áp động mạch phổi là tình trạng nghiêm trọng, trở nên ngày càng tồi tệ và thỉnh thoảng dẫn đến tử vong. Mặc dù một số dạng của tăng áp động mạch phổi không thể chữa được, nhưng điều trị có thể làm giảm các triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống.
  • Một vết thương bị đâm, như giẫm phải đinh thường không chảy nhiều máu. Nhưng vết thương đó thường sâu và có thể nguy hiểm vì có nguy cơ nhiễm trùng.
  • Hẹp môn vị là một tình trạng không phổ biến ở trẻ sơ sinh, nó ngăn chặn thức ăn đi vào trong ruột non. Hẹp môn vị có thể dẫn tới nôn ói nặng, mất nước, sụt cân. Trẻ em mắc hẹp môn vị lúc nào cũng có cảm giác đói. Có thể phẫu thuật chữa hẹp môn vị.
  • Virus hợp bào hô hấp (RSV) gây nhiễm trùng phổi và đường hô hấp. Nó phổ biến đến mức hầu hết các trẻ nhỏ ở độ tuổi 2 tuổi đều bị nhiễm virus. Virus hợp bào hô hấp cũng có thể làm cho người lớn nhiễm bệnh. RSV có thể gây nhiễm trùng nặng ở một số người, đặc biệt là trẻ sinh non, người lớn tuổi, trẻ sơ sinh và người lớn mắc bệnh tim và phổi hay bất cứ ai có hệ miễn dịch yếu.
  • Bong võng mạc mô tả một tình huống khẩn cấp trong đó một lớp mô mỏng (võng mạc) ở phía sau mắt lệch ra khỏi vị trí bình thường của nó. Việc bong võng mạc càng để lâu không được điều trị, nguy cơ mất thị lực vĩnh viễn ở mắt bị ảnh hưởng càng lớn. Dấu hiệu cảnh báo bong võng mạc có thể bao gồm một hoặc tất cả những điều sau đây: sự xuất hiện đột ngột của đốm đen và sáng, giảm thị lực. Liên hệ với chuyên gia về mắt (bác sĩ nhãn khoa) ngay lập tức có thể cứu thị lực của bạn.
  • Thấp khớp là một rối loạn viêm mãn tính có thể ảnh hưởng đến khớp và nhiều hơn thế. Ở một số người, tình trạng bệnh này có thể làm hỏng hệ thống cơ thể, bao gồm da, mắt, phổi, tim và mạch máu. Không giống như tổn thương mòn viêm xương khớp, viêm khớp dạng thấp ảnh hưởng đến niêm mạc khớp của bạn, gây sưng đau cuối cùng có thể dẫn đến xói mòn xương và biến dạng khớp. Các viêm liên quan đến viêm khớp dạng thấp cũng có thể làm hỏng các bộ phận khác của cơ thể. Trong khi các loại thuốc mới đã cải thiện đáng kể phương pháp điều trị, viêm khớp dạng thấp nghiêm trọng vẫn có thể gây ra khuyết tật về thể chất.
  • Nấm da hắc lào cơ thể là phát ban do nhiễm nấm. Nó thường phát ban đỏ, ngứa, hình tròn với làn da màu sáng hơn ở giữa. Nấm da hắc lào cơ thể có liên quan đến hắc lào ở chân (tinea pedis), hắc lào ở háng (tinea cruris) và hắc lào ở da đầu (viêm da tinea). Hắc lào thường lây lan qua tiếp xúc trực tiếp da với người hoặc động vật bị nhiễm bệnh. Nấm da nhẹ thường khỏi với các loại thuốc chống nấm mà bạn bôi lên da. Đối với nhiễm nấm nặng hơn, bạn có thể cần phải uống thuốc chống nấm trong vài tuần.
  • Bệnh nấm da hắc lào da đầu (viêm da tinea) là một bệnh nhiễm nấm ở da đầu và chân tóc. Các dấu hiệu và triệu chứng của nấm da đầu có thể khác nhau, nhưng nó thường xuất hiện dưới dạng các mảng ngứa, có vảy, hói trên đầu. Bệnh nấm da đầu, một bệnh nhiễm trùng rất dễ lây lan, thường gặp nhất ở trẻ mới biết đi và trẻ em ở độ tuổi đi học. Điều trị bệnh nấm da đầu bao gồm các loại thuốc uống để tiêu diệt nấm, cũng như dầu gội thuốc có thể làm giảm sự lây lan của nhiễm trùng. Một số trường hợp nấm da đầu dẫn đến viêm nặng ở vị trí nhiễm trùng có thể gây ra sẹo hoặc rụng tóc vĩnh viễn.
  • Sốt phát ban là một bệnh nhiễm trùng nhẹ thường ảnh hưởng đến trẻ em 2 tuổi. Nó đôi khi xuất hiện ở người lớn. Sốt phát ban phổ biến đến mức hầu hết trẻ em đã bị nhiễm bệnh khi chúng vào mẫu giáo. Hai chủng virus herpes phổ biến gây ra bệnh sốt phát ban. Bệnh thường gây sốt vài ngày, sau đó là phát ban. Sốt phát ban thường không nghiêm trọng. Hiếm khi sốt rất cao có thể dẫn đến các biến chứng. Điều trị bệnh sốt phát ban bao gồm nghỉ ngơi tại giường, truyền dịch và thuốc để hạ sốt.
  • Chóp xoay là nhóm các cơ và gân bao quanh khớp vai, giữ cho đầu xương cánh tay cố định vững chắc vào ổ khớp vai. Chấn thương chóp xoay có thể gây đau âm ỉ ở vai, thường trở nên tồi tệ hơn khi bạn cố gắng ngủ nghiêng phía đau. Chấn thương chóp xoay xảy ra thường xuyên nhất ở những người liên tục thực hiện các động tác trên cao trong công việc hoặc thể thao. Nguy cơ chấn thương cũng tăng theo tuổi. Nhiều người phục hồi sau khi bị bệnh bằng các bài tập vật lý trị liệu giúp cải thiện tính linh hoạt và sức mạnh của các cơ xung quanh khớp vai. Đôi khi, chóp xoay rách có thể xảy ra do một chấn thương. Trong những trường hợp đó điều trị càng sớm càng tốt.
  • Rotavirus là một loại virus rất dễ lây lan gây tiêu chảy. Đây là nguyên nhân phổ biến nhất gây tiêu chảy ở trẻ sơ sinh và trẻ em trên toàn thế giới, dẫn đến hơn 215.000 ca tử vong hàng năm. Mặc dù khi nhiễm rotavirus rất khó chịu, nhưng bạn thường có thể điều trị này tại nhà bằng bổ sung dung dịch để ngăn ngừa mất nước. Đôi khi, mất nước nghiêm trọng cần truyền dịch tĩnh mạch tại bệnh viện. Vệ sinh sạch sẽ, chẳng hạn như rửa tay thường xuyên rất quan trọng. Nhưng tiêm phòng là cách tốt nhất để ngăn ngừa nhiễm rotavirus.
  • Rách mãng nhĩ (thủng màng nhĩ) là có lỗ hoặc rách trong mô mỏng ngăn cách ống tai của bạn với tai giữa (màng nhĩ). Màng nhĩ rách có thể dẫn đến mất thính giác. Nó cũng có thể làm cho tai giữa của bạn dễ bị nhiễm trùng. Rách màng nhĩ thường lành trong vòng vài tuần mà không cần điều trị. Nhưng đôi khi nó cần phải vá lại hoặc phẫu thuật để chữa lành.
  • Viêm da tiết bã là một tình trạng da phổ biến, chủ yếu ảnh hưởng đến da đầu của bạn. Nó gây ra các mảng vảy, da đỏ và gàu cứng đầu. Viêm da tiết bã cũng có thể ảnh hưởng đến các vùng da nhờn khác trên cơ thể, như mặt, hai bên mũi, lông mày, tai, mí mắt và ngực. Viêm da tiết bã có thể hết mà không cần điều trị. Hoặc bạn có thể cần nhiều phương pháp điều trị lặp đi lặp lại cho đến khi các triệu chứng biến mất. Và chúng có thể trở lại sau này. Làm sạch hàng ngày với xà phòng nhẹ dịu và dầu gội đầu có thể giúp giảm dầu và tích tụ da chết.
  • Nhiễm khuẩn Shigella (shigellosis) là một bệnh đường ruột gây ra bởi vi khuẩn được gọi là shigella. Dấu hiệu chính của nhiễm trùng shigella là tiêu chảy, thường là ra máu. Shigella có thể được truyền qua tiếp xúc trực tiếp với vi khuẩn trong phân. Vi khuẩn Shigella cũng có thể được truyền vào thực phẩm bị ô nhiễm hoặc qua đường nước uống hay bơi trong nước bị ô nhiễm. Trẻ em dưới 5 tuổi rất dễ bị nhiễm shigella, nhưng nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Trường hợp nhẹ thường tự khỏi trong vòng một tuần. Khi cần điều trị, các bác sĩ thường kê đơn thuốc kháng sinh.
  • Bệnh zona là một bệnh nhiễm trùng do virus gây ra phát ban, gây đau. Mặc dù bệnh zona có thể xảy ra ở bất cứ đâu trên cơ thể bạn, nhưng nó thường xuất hiện dưới dạng một dải mụn nước bao quanh bên trái hoặc bên phải thân của bạn. Bệnh zona được gây ra bởi virus varicella zoster - cùng loại virus gây bệnh thủy đậu. Sau khi bạn bị thủy đậu, virus tồn tại không hoạt động trong mô thần kinh gần tủy sống và não của bạn. Nhiều năm sau, virus có thể hoạt động trở lại như bệnh zona.
  • Hẹp ống sống là sự thu hẹp các khoảng trống trong cột sống của bạn, có thể gây áp lực lên các dây thần kinh đi qua cột sống. Hẹp ống sống xảy ra thường xuyên nhất ở lưng dưới và cổ. Một số người bị hẹp ống sống có thể không có triệu chứng. Những người khác có thể cảm thấy đau, ngứa ran, tê và yếu cơ. Các triệu chứng có thể xấu đi theo thời gian. Hai loại hẹp ống sống chính là:
    • Hẹp ống sống cổ. Sự thu hẹp xảy ra ở một phần của cột sống ở cổ của bạn.
    • Hẹp ống sống thắt lưng. Sự thu hẹp xảy ra ở một phần của cột sống ở lưng dưới của bạn. Đây là loại phổ biến nhất của hẹp ống sống.
  • Bong gân là sự kéo dãn hoặc rách dây chằng - dải cứng của mô sợi kết nối hai xương với nhau trong khớp. Vị trí phổ biến nhất cho bong gân là ở mắt cá chân của bạn. Điều trị ban đầu bao gồm nghỉ ngơi, chườm đá, bó ép và nâng cao chân. Bong gân nhẹ có thể được điều trị thành công tại nhà. Bong gân nghiêm trọng đôi khi cần phẫu thuật để chữa dây chằng bị rách.
  • Viêm họng do liên cầu khuẩn là tình trạng cổ họng đau rát do nhiễm vi khuẩn. Viêm họng do liên cầu khuẩn chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong những người bị viêm họng. Tất cả mọi người đều có thể bị mắc viêm họng do liên cầu khuẩn, nhưng trẻ em thường mắc nhiều hơn.
  • Gãy xương do mệt mỏi là những vết nứt nhỏ trong xương. Chúng được gây ra bởi lực lặp đi lặp lại, thường là do hoạt động quá mức - chẳng hạn như liên tục nhảy lên nhảy xuống hoặc chạy đường dài. Gãy xương do mệt mỏi cũng có thể phát triển từ việc xuất hiện một xương bị suy yếu do tình trạng như loãng xương. Gãy xương do mệt mỏi phổ biến nhất ở xương chân và bàn chân dưới chịu trọng lượng.
  • Đột quỵ xảy ra khi nguồn cấp máu cho một phần não của bạn bị gián đoạn hoặc giảm, làm mất oxy và chất dinh dưỡng của mô não. Trong vài phút, các tế bào não bắt đầu chết đi. Đột quỵ là trường hợp cấp cứu khẩn. Điều trị kịp thời là rất quan trọng. Những can thiệp sớm có thể giảm thiểu tổn thương não và các biến chứng tiềm ẩn.
  • Lẹo mắt là cục đỏ, gây đau gần rìa mí mắt của bạn, nó có thể trông giống như cục nhọt hoặc cục mụn. Lẹo mắt thường chứa đầy mủ. Nó thường xuất hiện ở bên ngoài mí mắt của bạn. Nhưng đôi khi nó có thể ở phần bên trong của mí mắt của bạn. Trong hầu hết các trường hợp, lẹo mắt xuất hiện và tự biến mất trong một vài ngày.
  • Xuất huyết dưới kết mạc xảy ra khi một mạch máu nhỏ vỡ ngay dưới bề mặt màng trong của mắt bạn (kết mạc). Kết mạc không thể hấp thụ máu nhanh, do đó máu bị giữ lại. Bạn thậm chí có thể không nhận ra mình bị xuất huyết dưới kết mạc cho đến khi bạn nhìn vào gương và nhận thấy phần trắng của mắt bạn có màu đỏ tươi. Xuất huyết dưới kết mạc thường xảy ra mà không có bất kỳ tác hại rõ ràng nào đối với mắt của bạn. Ngay cả khi hắt hơi hoặc ho mạnh cũng có thể khiến mạch máu bị vỡ trong mắt. Nhưng xuất huyết dưới kết mạc thường là một tình trạng vô hại mà biến mất trong vòng hai tuần hoặc hơn.
  • Viêm tai là một bệnh nhiễm trùng ở ống tai ngoài, chảy từ màng nhĩ ra bên ngoài. Thường là do nước vẫn còn trong tai bạn sau khi bơi, tạo ra một môi trường ẩm giúp vi khuẩn phát triển. Cho ngón tay, tăm bông hoặc các vật khác vào tai cũng có thể dẫn đến viêm tai bằng cách làm hỏng lớp da mỏng lót trong ống tai của bạn.
  • Nhịp tim nhanh là một loại rối loạn nhịp tim phổ biến mà tim đập nhanh hơn bình thường khi nghỉ ngơi. Bình thường nhịp tim của bạn tăng lên trong khi tập thể dục hoặc như một phản ứng sinh lý đối với căng thẳng, chấn thương hoặc bệnh tật (nhịp nhanh xoang). Nhưng trong chứng nhịp tim nhanh, tim đập nhanh hơn bình thường ở các buồng trên hoặc dưới của tim hoặc cả hai khi nghỉ ngơi. Nhịp tim nhanh xảy ra khi một bất thường trong tim tạo ra các tín hiệu điện nhanh làm nhịp tim nhanh, nhịp tim bình thường là khoảng 60 đến 100 nhịp mỗi phút khi nghỉ ngơi. Các loại nhịp tim nhanh
    • Rung nhĩ
    • Cuồng động nhĩ
    • Rối loạn nhịp tim nhanh trên thất
    • Rối loạn nhịp tim nhanh thất
    • Rung thất nguyên phát
  • Khớp thái dương hàm (TMJ) hoạt động như một bản lề trượt, kết nối xương hàm với hộp sọ của bạn. Bạn có một khớp ở mỗi bên hàm của bạn. Chứng rối loạn thái dương hàm có thể gây đau ở khớp hàm và trong các cơ kiểm soát vận động của hàm. Nguyên nhân chính xác của rối loạn thái dương hàm thường khó xác định. Cơn đau có thể do sự kết hợp của nhiều yếu tố như: di truyền, viêm khớp hoặc chấn thương hàm. Đa số các trường hợp, sự đau đớn và khó chịu liên quan đến rối loạn thái dương hàm là tạm thời, và có thể được giảm bớt bằng cách chăm sóc tự chăm sóc hoặc điều trị không phẫu thuật. Phẫu thuật thường là phương án cuối cùng sau khi các biện pháp tự điều trị đã thất bại, nhưng với một số người bị rối loạn thái dương hàm thì phẫu thuật sẽ tốt hơn.
  • Viêm gân là viêm hoặc kích thích gân - dây xơ dày gắn cơ với xương. Tình trạng gây đau ngay bên ngoài khớp. Một số tên phổ biến cho các vấn đề viêm gân khác nhau là:
    • Đau khuỷu tay do chơi tennis
    • Đau khuỷu tay do chơi gôn
    • Đau vai ở người ném bóng
    • Đau vai ở vận động viên bơi lội
    • Đau đầu gối ở vận động viên nhảy xa
  • Đau đầu căng thẳng là một cơn đau lan tỏa, nhẹ đến vừa phải trong đầu bạn mà thường được mô tả là cảm giác như có một vòng buộc chặt quanh đầu bạn. Đau đầu do căng thẳng là loại đau đầu phổ biến nhất, nhưng nguyên nhân của nó chưa được làm rõ. Phương pháp điều trị đau đầu căng thẳng đã có. Kiểm soát cơn đau đầu căng thẳng thường là sự cân bằng giữa việc duy trì các thói quen lành mạnh, tìm ra các phương pháp điều trị không thuốc hiệu quả và phù hợp.
  • Xoắn tinh hoàn xảy ra khi một tinh hoàn xoay, xoắn dây dẫn đưa máu đến bìu. Lưu lượng máu giảm thường gây ra đau và sưng đột ngột. Xoắn tinh hoàn phổ biến nhất ở độ tuổi 12 đến 18, nhưng nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, ngay cả trước khi sinh.
  • Ung thư vòm họng là các khối u ung thư phát triển trong cổ họng của bạn (hầu họng), thanh quản hoặc amidan. Cổ họng của bạn là một ống cơ bắt đầu sau mũi kéo đến cổ của bạn. Ung thư vòm họng thường bắt đầu trong các tế bào phẳng nằm bên trong cổ họng của bạn. Ung thư vòm họng cũng có thể ảnh hưởng đến mảnh sụn hoạt động như nắp khí quản. Ung thư amidan, một dạng ung thư vòm họng khác, ảnh hưởng đến amidan, nằm ở phía sau cổ họng.
  • Viêm tĩnh mạch huyết khối là một quá trình viêm hình thành cục máu đông và gây tắc nghẽn một hay nhiều tĩnh mạch, thường là ở chi dưới. Tĩnh mạch bị tổn thương có thể ở gần bề mặt da (tĩnh mạch huyết khối nông) hoặc ở sâu trong cơ (huyết khối tĩnh mạch sâu – huyết khối tĩnh mạch sâu). Nguyên nhân gồm có do chấn thương, phẫu thuật hoặc tình trạng ngưng hoạt động trong thời gian dài
  • Nấm lang ben là một bệnh nhiễm trùng nấm phổ biến của da. Nấm tác động vào các sắc tố bình thường của da, dẫn đến các mảng nhỏ đổi màu. Những mảng da này có thể có màu sáng hơn hoặc tối hơn so với vùng da xung quanh và phổ biến nhất ảnh hưởng đến thân và vai. Bệnh nấm lang ben xảy ra thường xuyên nhất ở thanh thiếu niên và thanh niên. Tiếp xúc với nắng có thể làm cho bệnh rõ hơn. Lang ben không gây đau đớn hay truyền nhiễm nhưng nó có thể dẫn đến nỗi phiền muội hoặc tâm lý e dè, ngượng ngùng. Kem chống nấm, kem dưỡng da hoặc dầu gội đầu có thể giúp điều trị bệnh. Nhưng ngay cả sau khi điều trị thành công, màu da có thể vẫn không đồng đều trong vài tuần hoặc vài tháng. Lang ben thường tái phát, đặc biệt là trong thời tiết ấm áp và ẩm ướt.
  • Ù tai là khi bạn nghe thấy tiếng ồn hoặc tiếng ù ù trong tai. Tình trạng này phổ biến, ù tai ảnh hưởng đến khoảng 15-20% số người trên thế giới. Chứng ù tai không phải là bệnh - đó là triệu chứng của một tình trạng sức khỏe khác tiềm ẩn, chẳng hạn như mất thính lực do tuổi tác, chấn thương tai hoặc rối loạn hệ thống tuần hoàn. Mặc dù nó khó chịu nhưng ù tai thường không phải là dấu hiệu của một điều gì đó nghiêm trọng. Mặc dù nó có thể xấu đi theo tuổi tác, nhưng đối với nhiều người, chứng ù tai có thể được cải thiện khi điều trị.
  • Viêm amiđan là viêm nhiễm trùng hạch amidan, hai miếng mô hình bầu dục ở phía sau họng - một amidan mỗi bên. Các dấu hiệu và triệu chứng của viêm amidan bao gồm sưng amidan, đau họng, khó nuốt và nổi hạch ở hai bên cổ. Hầu hết các trường hợp viêm amidan là do nhiễm một virus thông thường, nhưng nhiễm trùng do vi khuẩn cũng có thể gây viêm amidan.
  • Rách sụn chêm là một trong những chấn thương đầu gối phổ biến nhất. Bất kỳ hoạt động nào khiến bạn vặn mạnh hoặc xoay đầu gối, đặc biệt là khi dồn toàn bộ trọng lượng của bạn lên nó, có thể dẫn đến sụn bị rách. Rách sụn chêm gây đau, sưng và cứng. Bạn cũng có thể cảm thấy cứng khớp, hạn chế vận động khớp gối. Điều trị tạm thời - chẳng hạn như nghỉ ngơi, chườm đá và dùng thuốc giảm đau - đôi khi là đủ để làm giảm cơn đau của rách sụn chêm và có thể để tự chữa lành theo thời gian. Tuy nhiên, trong những trường hợp khác, rách sụn cần được phẫu thuật.
  • Cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA) giống như một cơn đột quỵ, tạo ra các triệu chứng tương tự, nhưng thường chỉ kéo dài trong vài phút và không gây ra thiệt hại vĩnh viễn. Thường được gọi là đột quỵ nhẹ, cơn thiếu máu não thoáng qua có thể là một cảnh báo. Khoảng 1 trong 3 người bị cơn thiếu máu não thoáng qua cuối cùng sẽ bị đột quỵ, khoảng một nửa xảy ra trong vòng một năm sau lần bị thiếu máu não thoáng qua.
  • Tiêu chảy ở khách du lịch là một rối loạn đường tiêu hóa thường gây ra tình trạng phân lỏng và đau bụng. Đó là do ăn thực phẩm bị nhiễm bẩn hoặc uống nước bị nhiễm bẩn. Tiêu chảy của khách du lịch thường không nghiêm trọng – nó chỉ gây khó chịu
  • Bệnh tiểu đường loại 1, từng được gọi là tiểu đường vị thành niên hoặc tiểu đường phụ thuộc insulin, là một tình trạng mãn tính trong đó tuyến tụy sản xuất ít hoặc không có insulin. Insulin là một hormone cần thiết để cho phép đường (glucose) đi vào tế bào để tạo ra năng lượng. Mặc dù đã được nghiên cứu, bệnh tiểu đường loại 1 không có cách chữa trị. Điều trị tập trung vào việc quản lý lượng đường trong máu bằng insulin, chế độ ăn uống và lối sống để ngăn ngừa các biến chứng.
  • Viêm loét đại tràng là bệnh viêm ruột (IBD) gây viêm và loét (lở loét) kéo dài trong đường tiêu hóa của bạn. Viêm loét đại tràng ảnh hưởng đến lớp lót trong cùng của ruột già (đại tràng) và trực tràng. Các triệu chứng thường phát triển theo thời gian, thay vì đột ngột. Viêm loét đại tràng có thể làm suy nhược và đôi khi có thể dẫn đến các biến chứng đe dọa tính mạng. Mặc dù không có cách chữa trị hoàn toàn, việc điều trị có thể làm giảm đáng kể các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh và thậm chí mang lại sự thuyên giảm lâu dài.
  • Tiểu không tự chủ - mất kiểm soát bàng quang - là một vấn đề phổ biến. Mức độ nghiêm trọng có thể từ thỉnh thoảng rò rỉ nước tiểu khi bạn ho hoặc hắt hơi đến muốn đi tiểu quá đột ngột và mạnh mẽ đến mức bạn không kịp đi vệ sinh. Mặc dù nó xảy ra thường xuyên hơn khi mọi người già đi, nhưng không phải cứ già là sẽ bị tiểu không tự chủ
  • Viêm đường tiết niệu (UTI) là một bệnh nhiễm trùng có thể ở bất kỳ phần nào trong hệ thống tiết niệu của bạn - thận, niệu quản, bàng quang và niệu đạo. Hầu hết nhiễm trùng liên quan đến đường tiết niệu dưới - bàng quang và niệu đạo. Phụ nữ có nguy cơ mắc UTI cao hơn nam giới.
  • Màu nước tiểu bình thường dao động từ màu vàng nhạt đến màu hổ phách đậm - kết quả của một sắc tố gọi là urochrom và nước tiểu được pha loãng hoặc cô đặc như thế nào. Màu nước tiểu bất thường có thể là dấu hiệu của bệnh tật. Ví dụ, nước tiểu màu đỏ đến nâu đậm là một đặc điểm nhận dạng của porphyria, một rối loạn di truyền hiếm gặp của các tế bào hồng cầu.
  • U xơ tử cung là tình trạng phát triển các khối u không thành ung thư thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. U xơ tử cung hầu như không bao giờ phát triển thành ung thư. Nhiều phụ nữ đôi khi bị u xơ tử cung trong suốt cuộc đời. Nhưng hầu hết phụ nữ không biết họ bị u xơ tử cung vì chúng thường không gây ra bất kì triệu chứng nào.
  • Viêm màng bồ đào là một dạng viêm mắt. Nó ảnh hưởng đến lớp giữa của mô trong thành mắt. Dấu hiệu cảnh báo viêm màng bồ đào thường xuất hiện đột ngột và nhanh chóng trở nên tồi tệ hơn. Bao gồm đỏ mắt, đau và mờ mắt. Nó có thể tác động đến một hoặc cả hai mắt. Nó chủ yếu ảnh hưởng đến những người từ 20 đến 50 tuổi, nhưng cũng có thể xuất hiện ở trẻ em.
  • Viêm âm đạo là tình trạng viêm ở âm đạo có thể dẫn đến chảy máu, ngứa và đau. Nguyên nhân thường là do sự thay đổi cân bằng bình thường của vi khuẩn âm đạo hoặc do nhiễm trùng. Giảm nồng độ estrogen sau khi mãn kinh và một số rối loạn da cũng có thể gây viêm âm đạo. Các loại viêm âm đạo phổ biến nhất là:
    • Viêm âm đạo do vi khuẩn
    • Nhiễm trùng nấm men
    • Nhiễm Trichomonas
  • Giãn tĩnh mạch là xoắn, mở rộng tĩnh mạch. Bất kỳ tĩnh mạch nông nào cũng có thể bị giãn, nhưng các tĩnh mạch thường bị ảnh hưởng nhất là ở chân của bạn. Đó là bởi vì đứng và đi thẳng làm tăng áp lực trong tĩnh mạch của phần dưới cơ thể của bạn.
  • Viêm dạ dày ruột siêu vi là một bệnh nhiễm trùng đường ruột nổi bật với các dấu hiệu tiêu chảy nước, chuột rút bụng, buồn nôn hoặc nôn, và đôi khi sốt. Phương thức nhiễm bệnh phổ biến nhất viêm dạ dày ruột siêu vi - thường được gọi là cúm dạ dày, là thông qua tiếp xúc với người bị nhiễm bệnh hoặc ăn phải thức ăn hoặc nước bị nhiễm bệnh.
  • Đau âm hộ là đau mãn tính hoặc khó chịu xung quanh phần mở âm đạo (âm hộ) mà không có nguyên nhân xác định và kéo dài ít nhất ba tháng. Cơn đau, nóng rát hoặc đau nhói liên quan đến chứng đau âm hộ có thể khiến bạn khó chịu trong thời gian dài hoặc khiến việc quan hệ tình dục trở nên khó khăn hết sức. Tình trạng này có thể kéo dài hàng tháng đến hàng năm.
  • Thoái hóa điểm vàng ướt là một rối loạn mắt mãn tính gây ra mờ mắt hoặc một điểm mù trong vùng thị giác của bạn. Nó thường bị tạo ra bởi các mạch máu bất thường rò rỉ chất lỏng hoặc máu vào điểm vàng.
  • Đau ở ất cứ khu vực nào trong khoảng phía trên xương chậu, nhưng dưới xương sườn có thể được coi là đau bụng. Nó là một triệu chứng phổ biến của cơ thể ở mọi lứa tuổi, và thường bắt nguồn từ một trong các cơ quan nằm trong bụng. Đau bụng có thể được gây ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, tình trạng đau bụng có thể là chỉ là sự khó chịu đơn giản cho đến các bệnh phức tạp nhất có thể đe dọa tính mạng.
  • Đau ở lưng dưới là triệu chứng đặc biệt phổ biến, mặc dù nó có thể được cảm nhận ở bất cứ khu vực nào dọc theo cột sống, từ cổ xuống đến hông. Trong hầu hết các trường hợp, cơn đau lưng không xảy ra bởi nguyên nhân gì quá nghiêm trọng và sẽ hồi phục theo thời gian.
  • Đau ngực là khó chịu hoặc đau đớn mà bạn cảm thấy bất cứ khu vực nào dọc theo mặt trước của cơ thể giữa vùng cổ và bụng trên của bạn. Nhiều người bị đau ngực thì lo là mình bị đau tim. Tuy nhiên, có rất nhiều nguyên nhân có thể gây ra đau ngực. Một số nguyên nhân không nguy hiểm cho sức khỏe của bạn, trong khi các nguyên nhân khác là nghiêm trọng và, trong một số trường hợp có thể đe dọa tính mạng. Bất kỳ cơ quan hoặc mô trong ngực của bạn có thể là nguồn gốc của cơn đau, bao gồm cả trái tim của bạn, phổi, thực quản, cơ bắp, xương sườn, gân, hoặc dây thần kinh. Đau cũng có thể lây lan đến ngực từ cổ, bụng, và lưng.
  • Ho là triệu chứng thường gặp nhất mà người ta tìm kiếm sự tư vấn y tế. Một cơn ho thường sẽ tự khỏi trong vòng 3 đến 4 tuần. Hầu hết tình trạng ho được gây ra bởi cảm lạnh hoặc cảm cúm. Các nguyên nhân khác bao gồm hút thuốc, ợ nóng (trào ngược axit), dị ứng, nhiễm trùng như viêm phế quản hoặc do chất nhầy chảy xuống cổ họng từ phía sau mũi. Ho là rất hiếm khi một dấu hiệu của một bệnh nghiêm trọng như ung thư phổi.
  • Chóng mặt, mất thăng bằng là một triệu chứng thông thường, và nó thường không quá nghiêm trọng. Chóng mặt bao gồm cảm giác:
    • Mất thăng bằng
    • Lảo đảo
    • Xây xẩm mặt mày hoặc lả đi
    • Cảm giác như bạn hoặc những vật xung quanh bạn quay vòng
  • Sốt là một trong những cách hiệu quả nhất của cơ thể để chống nhiễm trùng. Nhiệt độ cơ thể trung bình là 98,6 ° F (37 °C). Nhưng nhiệt độ cơ thể "bình thường" này là khác nhau tùy từng người. Nó cũng thay đổi trong ngày, tăng một chút sau khi bạn ăn hoặc tập thể dục. Nhiệt độ cơ thể thường cao hơn vào buổi chiều hơn là khi bạn thức dậy vào buổi sáng. Sốt có nghĩa là nhiệt độ cơ thể 100,4 ° F (38 ° c) hoặc cao hơn. Nhiễm trùng, chẳng hạn như cúm, là nguyên nhân phổ biến nhất gây sốt. Các tình trạng khác cũng có thể gây sốt, chẳng hạn như viêm khớp dạng thấp, phản ứng với thuốc hoặc vắc xin, và thậm chí một số loại bệnh ung thư.
  • Đau đầu là một trong những vấn đề thần kinh phổ biến nhất. Người ta thường dùng cụm từ đau đầu để chỉ những cảm giác khó chịu và đau ở vùng vòm sọ. Có 3 loại đau đầu chính là đau đầu nguyên phát, đau đầu thứ phát, đau dây thần kinh sọ, đau mặt và các loại đau đầu khác. Phổ biến nhất là các loại đau đầu nguyên phát như: đau đầu dạng căng thẳng, đau đầu migraine, đau đầu từng cụm, đau đầu mạn tính...
  • Đau vai thường được đặc trưng bởi các triệu chứng ở các khớp khác nhau, cơ bắp, gân, và túi hoạt dịch liên quan đến chuyển động vai. Triệu chứng đầu của đau vai có thể khác nhau và xảy ra mà không có nguyên nhân trực tiếp, hoặc nó có thể liên quan đến chấn thương hoặc một biến cố thần kinh (như đột quỵ). Đau vai thường dẫn tới giảm hoạt động trong thời gian ngắn và ít khi phát triển hành một tình trạng mãn tính.
  • Bệnh nấm da là một nhiễm trùng phổ biến của da và móng tay được gây ra bởi nấm. Nhiễm trùng được gọi là "ringworm" bởi vì nó có thể gây ngứa, đỏ, phát ban hình tròn. Các loại bệnh nấm da khác nhau thường được đặt tên khác nhau do vị trí của nhiễm trùng trên cơ thể. Các khu vực của cơ thể có thể bị ảnh hưởng bởi bệnh nấm da bao gồm:
    • Bàn chân (nấm da pedis, thường được gọi là "nấm chân của vận động viên")
    • Háng, đùi bên trong, hoặc mông (nấm da cruris)
    • Da đầu
    • Râu
    • Tay
    • Móng chân hoặc móng tay
    • Các bộ phận khác của cơ thể như cánh tay hoặc cẳng chân
  • Bệnh tiểu đường loại 2 là khi mà cơ thể không sản xuất đủ insulin, hoặc các tế bào của cơ thể không phản ứng với insulin Tiểu đường loại 2 phổ biến hơn tiểu đường loại 1 rất nhiều. Bệnh phát triển qua nhiều năm và thường được chẩn đoán ở người lớn (nhưng hiện nay phát hiện ở trẻ em, thiếu niên, và người lớn trẻ ngày càng nhiều).
  • Phình động mạch chủ là động mạch chủ bị phình lên giống như bong bóng, nơi mang máu từ trái tim tới ngực và cơ thể. Phình động mạch chủ có thể phân tách hoặc vỡ:
    • Lực bơm máu có thể tách lớp ở thành động mạch, khiến máu bị rò rỉ ở giữa các lớp. Quá trình này được gọi là phân tách
    • Phình động mạch có thể vỡ hoàn toàn, gây chảy máu bên trong cơ thể (gọi là vỡ động mạch chủ)
    • Hai biểu hiện trên là nguyên nhân gây ra hầu hết các ca tử vong do phình động mạch chủ.
    Phình động mạch chủ bụng xảy ra thường xuyên hơn phình động mạch chủ ngực.
  • Khi cổ họng bị đau, hay còn gọi là viêm họng, thường được gây ra bởi sự viêm hoặc sưng tấy của mô cổ họng (hầu) do nhiễm trùng hoặc viêm. Nhiễm virus do cảm lạnh hoặc cúm là những nguyên nhân phổ biến nhất, nhưng cũng có thể từ những nguyên nhân khác, chẳng hạn như trào ngược axit, dị ứng, và sử dụng quá mức dây thanh âm. Thông thường, viêm họng do virus sẽ chỉ cần chăm sóc nhẹ nhàng cho họng là sẽ tự khỏi, nhưng nếu viêm họng do nguyên nhân khác, chẳng hạn như viêm họng do liên cầu khuẩn, thì cần điều trị để ngăn ngừa các biến chứng liên quan.
  • Amidan là khối của mô ở mặt sau của cổ họng. Có hai khối amidan, một khối ở một bên cổ. Cùng với các VA (adenoids), amidan là một phần của hệ bạch huyết. Viêm amiđan là tình trạng viêm (sưng) của amidan. Đôi khi cùng với viêm amiđan, các VA (adenoids) cũng bị sưng.
  • Viêm đường hô hấp trên liên quan đến mũi, xoang, họng, thanh quản, và đường thở lớn. Viêm đường hô hấp trên cấp tính bao gồm viêm mũi, sưng yết hầu, viêm amiđan và viêm thanh quản. Nó thường bắt đầu từ một đến ba ngày sau khi mắc, kéo dài từ 7 – 10 ngày và có thể tồn tại đến 3 tuần.
  • Viêm dạ dày ruột có thể gây ra buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy, và chuột rút trong bụng. Hiện tượng này cũng có thể xảy ra khi ruột phản ứng với thức ăn, viêm đường tiêu hóa, do dùng thuốc, bị căng thẳng, hoặc các nguyên nhân khác không liên quan đến nhiễm trùng. Các triệu chứng của bạn sẽ thường kéo dài từ 1 đến 3 ngày, nhưng có thể tồn tại lâu hơn.
  • Đau dây thần kinh tọa là một vấn đề liên quan đến dây thần kinh hông, dây thần kinh lớn nhất trong cơ thể. Nó kiểm soát cơ bắp ở mặt sau của đầu gối và cẳng chân và cung cấp cảm giác cho mặt sau của đùi, một phần của chân và bàn chân của bạn. Khi bạn bị đau dây thần kinh tọa, bạn sẽ có cảm giác đau, yếu cơ, tê, hoặc ngứa ran. Nó có thể bắt đầu phần lưng dưới rồi lan xuống chân, bàn chân thậm chí đến các ngón chân của bạn. Bệnh này thường chỉ ảnh hưởng một bên của cơ thể.
  • Vi rút Corona (CoV) là một họ virút có khả năng lây truyền từ động vật sang người và gây bệnh cho người từ cảm lạnh thông thường đến các tình trạng bệnh nặng, đe dọa tính mạng của người bệnh như Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS-CoV) năm 2002 và Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS-CoV) năm 2012. Từ tháng 12 năm 2019, một chủng vi rút corona mới (2019-nCoV) đã được xác định là căn nguyên gây dịch nhiễm trùng hô hấp cấp tính tại thành phố Vũ Hán (tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc), sau đó lan rộng ra toàn Trung Quốc và nhiều quốc gia trên thế giới, Chủng 2019-nCoV ngoài khả năng lây truyền từ động vật sang người, còn có khả năng lây trực tiếp từ người sang người qua giọt bắn đường hô hấp khi tiếp xúc gần. Người nhiễm 2019-nCoV có biểu hiện lâm sàng đa dạng: từ nhiễm không có triệu chứng, giống như cảm cúm thông thường, tới những biểu hiện bệnh lý nặng như viêm phổi nặng, suy hô hấp, sốc nhiễm trùng, suy chức năng đa cơ quan và tử vong, đặc biệt ở những người cao tuổi, người có bệnh mạn tính hay suy giảm miễn dịch. Hiện nay chưa có thuốc đặc hiệu và chưa có vắc xin phòng bệnh 2019-nCoV nên chủ yếu là điều trị hỗ trợ và điều trị triệu chứng. Các biện pháp phòng bệnh chính là phát hiện sớm và cách ly ca bệnh.
  • Bệnh tả là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, tình trạng tiêu chảy gây ra bởi nhiễm trùng ruột do vi khuẩn Vibrio cholerae nhóm O1 hoặc O139. Các vi khuẩn tả thường được tìm thấy trong nước hoặc các nguồn thực phẩm đã bị ô nhiễm bởi phân của người bị nhiễm bệnh tả. Bệnh tả có nhiều khả năng được tìm thấy và lan rộng ở những nơi có vệ sinh kém, nguồn nước khan hiếm.
  • Sốt thương hàn là một nhiễm trùng do vi khuẩn có thể lây lan khắp cơ thể, ảnh hưởng đến nhiều cơ quan. Nếu không điều trị kịp thời, nó có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng và tử vong. Sốt thương hàn là phổ biến nhất nơi có vệ sinh kém, nguồn nước sạch hạn chế.
  • Bệnh lao (TB) là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn lao lây lan qua đường: người mắc lao phổi ho, nói, hắt hơi gây phát tán ra bên ngoài, lây cho người hít phải. Nó chủ yếu ảnh hưởng đến phổi, nhưng nó có thể ảnh hưởng đến bất kỳ một phần của cơ thể, bao gồm bụng, xương và hệ thần kinh. Bệnh lao là một tình trạng nghiêm trọng, nhưng có thể được chữa khỏi bằng thuốc kháng sinh đúng cách.
  • Uốn ván hay còn gọi là phong đòn gánh, là bệnh không lây truyền từ người sang người. Vi khuẩn này thường được tìm thấy trong đất, bụi, và phân bón và xâm nhập vào cơ thể qua các vết thương hở trên da.
  • Ho gà là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây qua đường hô hấp. Gọi bệnh là Ho gà do âm thanh khi thở rít vào nghe như tiếng gà.
  • Sốt ban đỏ là bệnh truyền nhiễm chủ yếu ảnh hưởng đến trẻ em. Nói chung, sốt ban đỏ là một nhiễm trùng nhẹ. Người bệnh thường phát bệnh từ 2 đến 5 ngày sau khi tiếp xúc với vi khuẩn nhóm A (strep)
  • Giang mai là một bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD) có thể có các biến chứng rất nghiêm trọng khi không được điều trị, nhưng có thể điều trị rất đơn giản nếu dùng đúng phác đồ
  • Bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) là các nhiễm trùng được truyền từ người này sang cá nhân khác qua quan hệ tình dục. Nguyên nhân của STDs là vi khuẩn, ký sinh trùng và vi rút. Có hơn 20 loại STDs, bao gồm
    • Chlamydia
    • Herpes sinh dục
    • Bệnh lậu
    • HIV/AIDS
    • HPV
    • Giang Mai
  • Polio là bệnh truyền nhiễm lây lan theo đường tiêu hóa. Virus bại liệt sống trong cổ họng và ruột của người bị nhiễm bệnh. Nó thường lây lan do tiếp xúc với phân của một người bị nhiễm bệnh. Bạn cũng có thể lây bệnh từ việc hắt hơi hoặc do của người bệnh.
  • Bệnh dại là bệnh nguy hiểm nhưng có thể phòng ngừa được. Bệnh dại có thể lây sang người từ vật nuôi qua vết cắn của động vật. Virus gây ra bệnh dại làm ảnh hưởng tới hệ thần kinh trung ương. Nếu người bệnh không được điều trị hợp lý và kịp thời thì não có thể bị ảnh hưởng dẫn tới tử vong.
  • Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm cấp tính. Bạn có thể nhiễm bệnh nếu bị muỗi cắn. Sốt xuất huyết không lây từ người sang người. Bệnh này phổ biến ở khu vực có khí hậu ấm áp, ẩm ướt. Dịch có thể bùng phát vào mùa mưa.
  • Thủy đậu là một bệnh truyền nhiễm do virus varicella-zoster (VZV). Nó có thể gây ra các vết phát ban ngứa, mọng nước. Thủy đậu có thể diễn tiến nghiêm trọng, đặc biệt là ở trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, người lớn, phụ nữ mang thai và những người có hệ thống miễn dịch suy yếu.
  • Sởi là một bệnh truyền nhiễm có thể gây ra các biến chứng đặc biệt nghiêm trọng. Bất cứ ai cũng có thể nhiễm bệnh sởi nếu họ đã không được tiêm chủng, đặc biệt là trẻ em.
  • Quai bị là bệnh truyền nhiễm phổ biến ở trẻ em trước khi vắc xin MMR ra đời
  • Sốt rét là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm truyền qua muỗi. Nếu nó không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, nó có thể gây ra tử vong. Chỉ cần một vết muỗi cắn duy nhất cũng là đủ để nhiễm bệnh.
  • Giun kim có hình dáng nhỏ, mỏng, trắng, tròn sống trong đại tràng và trực tràng của con người. Giun kim phổ biến ở trẻ em và lây lan dễ dàng.
  • Chấy là kí sinh trùng nhỏ sống trên da đầu. Chấy trưởng thành có kích thước bằng hạt vừng. Trứng chấy có kích thước nhỏ hơn. Chấy và trứng được tìm thấy trên hoặc gần da đầu, nhất là ở vùng da sau tai.
  • Ghẻ là bệnh ngoài da phổ biến, do côn trùng kí sinh (ghẻ cái, mạt ngứa) trên da gây ra. Bất cứ ai cũng có thể bị ghẻ. Bệnh ghẻ lây lan nhanh chóng ở khu vực đông đúc dân cư.
  • E. coli là tên của một loại vi khuẩn sống trong đường ruột. Hầu hết các loại E. coli là vô hại. Tuy nhiên, một số loại có thể làm cho bạn bị bệnh và gây tiêu chảy. Một loại gây ra tiêu chảy ở khách du lịch. Trường hợp tệ nhất E.coli có thể gây ra tiêu chảy ra máu, suy thận và tử vong.
  • Ung thư môi xảy ra trên da của môi. Ung thư môi có thể xảy ra bất kì vị trí nào dọc theo môi trên hoặc dưới nhưng là phổ biến nhất là ở môi dưới. Ung thư môi là một loại của ung thư vùng miệng.
  • Ung thư lưỡi là một hình thức ung thư bắt đầu trong các tế bào của lưỡi. Một số loại ung thư có thể ảnh hưởng đến lưỡi, nhưng ung thư lưỡi thường bắt đầu ở các tế bào vảy mỏng ở bề mặt lưỡi.
  • Ung thư sàn miệng là ung thư ở các mô bên dưới lưỡi của bạn.
  • Ung thư vòm miệng xảy ra ở các tế bào của vòm miệng mềm. Vòm miệng nằm ở phần trên của khoang miệng, đằng sau răng
  • Ung thư amidan là một loại ung thư ở amidan. Amidan gồm 2 tổ chức bạch huyết nằm ở phía sau của hầu họng, là nơi giao nhau của đường ăn uống và đường hô hấp.
  • Ung thư dạ dày xảy ra khi các tế bào ung thư hình thành trong lớp niêm mạc của dạ dày.
  • Ung thư ruột non là một bệnh hiếm gặp trong đó các tế bào ác tính (ung thư) hình thành trong các mô của ruột non. Ruột non là một ống dài mang thức ăn nối giữa dạ dày và đại tràng có chức năng hấp thụ dinh dưỡng cho cơ thể
  • Ung thư trực tràng là một bệnh trong đó các tế bào ác tính (ung thư) hình thành trong các mô của trực tràng.
  • Hậu môn là bộ phận cuối cùng của ống tiêu hóa. Ung thư hậu môn là tình trạng các ống hậu môn bị đột biến, tạo thành các khối u ở hậu môn.
  • Ung thư là khi các tế bào trong cơ thể phát triển ra khỏi tầm kiểm soát. Khi ung thư xảy ra tại gan, nó được gọi là ung thư gan. Gan là cơ quan lớn nhất trong cơ thể con người, nằm ở phía trên bên phải của cơ thể, phía sau xương sườn dưới.
  • Gan của sản sinh ra một chất dịch tiêu hóa gọi là mật. Túi mật của bạn chứa các chất này giữa các bữa ăn. Khi bạn ăn, túi mật của bạn đẩy mật vào ống được gọi là ống dẫn mật. Ung thư có thể ảnh hưởng đến bất kỳ phần nào của các ống dẫn này gọi là ung thư đường mật (ống mật)
  • Ung thư túi mật là bệnh ung thư xảy ra tại túi mật. Túi mật là một nhỏ, ở bên dưới gan. Nó trữ mật, một chất lỏng được sản xuất bởi gan giúp tiêu hóa các loại chất béo
  • Ung thư bóng Vater, hoặc các ung thư biểu mô Vater, là một bệnh ung thư hình thành trong một phần cơ thể gọi là bóng của Vater. Các bóng của Vater là một nắp nhỏ ở phần đầu của ruột ron. Dịch mật, dịch tụy đổ vào tá tràng qua bóng Vater.
  • Tuyến tụy là một cơ quan nội tiết nằm phía sau dạ dày. Tuyến tụy có vai trò sản xuất các enzyme hỗ trợ tiêu hóa, kiểm soát điều hòa đường huyết. Ung thư tuyến tụy là dạng ung thư liên quan đến các mô của tuyến tụy, thường bắt đầu từ các tế bào ngoại tiết, nơi sản xuất ra dịch tụy.
  • Ung thư phổi xảy ra khi các tế bào phổi tăng trưởng ở mức độ nhanh bất thường, hình thành một khối u ở phổi. Ung thư phổi bắt đầu ở phổi và có thể lây lan đến các hạch bạch huyết hoặc các cơ quan khác trong cơ thể, chẳng hạn như não.
  • U đốt sống là khối u phát triển bên trong ống đốt sống của cột sống. U thường bắt đầu trong tủy sống hoặc màng cứng bao lấy tủy sống
  • Ung thư da là loại phổ biến nhất của bệnh ung thư. Các loại chính của bệnh ung thư da là ung thư da biểu mô tế bào vảy, ung thư da biểu mô tế bào đáy, ung thư hắc tố.
  • Ung thư tế bào hắc tố là ung thư da ác tính nhất, có thể lây lan sang các cơ quan khác trong cơ thể. Nó phát triển từ tế bào sản xuất melanin - các sắc tố mang lại màu sắc cho làn da của bạn.
  • Ung thư da không phải tế bào hắc tố là các loại ung thư xảy ra trên da nhưng không liên quan đến tế bào hắc tố
  • Sarcoma mô mềm là một thể hiếm của ung thư bắt đầu ở các mô mềm. Các mô mềm giúp kết nối, hỗ trợ và bao quanh cấu trúc cơ thể. Có thể tìm thấy ở bất kì bộ phận nào của cơ thể, nhưng thường ở cánh tay, chân, đầu, cổ, các cơ quan nội tạng.
  • Ung thư vú là một bệnh trong đó các tế bào trong vú phát triển không thể kiểm soát. Ung thư vú có thể bắt đầu ở các bộ phận khác nhau của vú. Một vú được tạo thành từ ba phần chính: các thùy, ống dẫn, và mô liên kết. Ung thư vú là khi các tế bào trong vú phát triển ngoài mức kiểm soát. Ung thư vú có thể ở 3 phần: các tiểu thùy, ống dẫn sữa, túi sữa.
  • Ung thư âm hộ là một loại bệnh ung thư hiếm có ảnh hưởng đến phụ nữ. Âm hộ là bộ phận sinh dục bên ngoài của người phụ nữ, bao gồm:
    • Môi lớn và môi nhỏ bao quanh âm đạo
    • Âm vật, bộ phận nhạy cảm nhất của cơ quan sinh dục ở nữ giới
    • Tuyến Bartholin: có 2 tuyến ở hai bên của âm đạo, tiết chất nhày để bôi trơn trong quá trình quan hệ tình dục
  • Ung thư âm đạo là bệnh ung thư có ảnh hưởng đến âm đạo - các ống kết nối tử cung của bạn với bộ phận sinh dục bên ngoài
  • Ung thư cổ tử cung phát triển trong tử cung của một người phụ nữ (lối vào tử cung từ âm đạo). Ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư phổ biến thứ tư ở phụ nữ.
  • Ung thư nội mạc tử cung là ung thư phổ biến ảnh hưởng đến cơ quan sinh sản của nữ. Nó phổ biến hơn ở các phụ nữ mãn kinh.
  • Ung thư là khi các tế bào trong cơ thể phát triển ngoài tầm kiểm soát. Khi tế bào ung thư phát triển ở trong tuyến tiền liệt, thì được gọi là ung thư tuyến tiền liệt (ung thư tiền liệt tuyến). Tuyến tiền liệt là một phần của cơ quan sinh sản ở nam giới.
  • Tinh hoàn là cơ quan sản xuất ra tinh trùng và tuyến nội tiết (tiết ra tiết tố nam testosteron). Tinh hoàn có hình bầu dục, nằm giữa dương vật và hậu môn. Bạn có thể bị ung thư ở một bên hoặc cả hai bên tinh hoàn.
  • Bạn có 2 quả thận. Cơ quan này có kích thước bằng một nắm tay, vị trí ở hai bên xương sống, phần trên eo. Các ống thận có nhiệm vụ làm sạch máu, lọc các chất thải tạo thành nước tiểu để đẩy ra ngoài cơ thể. Ung thư thận là khi các tế bào trong thận phát triển ngoài mức kiểm soát.
  • Ung thư niệu quản là ung thư hình thành ở ống dẫn nước tiểu từ thận đến bàng quang.
  • Bàng quang là một cơ quan rỗng ở bụng dưới có chức năng lưu trữ nước tiểu. Ung thư bàng quang xảy ra ở niêm mạc của bàng quang.
  • Ung thư biểu mô tế bào Hurth là một loại hiếm gặp của ung thư tuyến giáp. Ung thư tuyến giáp là khi tế bào tuyến giáp tăng trưởng ngoài tầm kiểm soát.
  • Tuyến thượng thận là tuyến nội tiết nằm ở phía trên 2 thận có nhiệm vụ sản xuất hoormone điều hòa cân bằng nước - điện giải, điều hòa huyết áp, hoormone giới tính.... Ung thư tuyến thượng thận là một ung thư hiếm gặp xuất hiện ở một hoặc cả hai tuyến thượng thận.
  • Ung thư là khi tế bào của cơ thể phát triển ngoài tầm kiểm soát. Ung thư đầu và cổ là khi các tế bào ung thư phát triển ở đầu và cổ họng, không bao gồm ung thư não hoặc ung thư mắt.
  • Ung thư là khi các tế bào phân chia, nhân lên mất kiểm soát, xâm lấn các mô xung quanh và có thể di căn đi xa. Ung thư có thể bắt đầu ở một cơ quan, sau đó lan rộng ra (quá trình này gọi là di căn), tiêu diệt các tế bào khỏe mạnh, kể cả các cơ quan nội tạng.
  • U máu trong gan là một khối u trong gan lành tính (không phải ung thư). Khối u này hình thành từ một mớ mạch máu nằm ở gan.
  • U xơ là u lành tính (không phải ung thư) hay gặp nhất trong tuyến vú.
  • U tuyến thượng thận thường là u lành tính, xuất hiện ở một hoặc cả hai tuyến thượng thận. Tuyến thượng thận là tuyến nội tiết nằm ở phái trên 2 quả thận.
  • Tiểu cầu là các hạt trong máu được sản xuất trong tủy xương đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tạo thành cục máu đông. Chứng tăng tiểu cầu xảy ra khi cơ thể sản xuất quá nhiều tiểu cầu
  • Khối u tế bào mầm xuất hiện ở trong buồng trứng (ở trẻ em gái), tinh hoàn (ở trẻ em trai), và ở một số địa điểm khác, bao gồm cả lưng dưới, bụng, ngực, và trong não. Khối u tế bào mầm bắt đầu trong não được gọi là u não.
  • Thalassemias bệnh di truyền về huyết học (máu). Nếu bạn bị Thalassemia, cơ thể bạn sẽ có ít tế bào hồng cầu và hemoglobin. Hemoglobin là protein mang oxy đi khắp cơ thể, dẫn tới thiếu máu
  • Chứng giảm tiểu cầu là khi trong máu của bạn có lượng tiểu cầu ít hơn mức bình thường. Tiểu cầu có chức năng giúp đông máu, khi lượng tiểu cầu ít sẽ ảnh hưởng đến việc cầm máu của cơ thể
  • Bướu cổ là một bệnh lý của tuyến giáp. Người bị bướu cổ sẽ xuất hiện một khối u cứng ở phía trước của cổ. Khối u này thường di chuyển lên xuống khi bạn nuốt
  • Bệnh tiểu đường (hay còn gọi là đái tháo đường) là khi nồng độ đường ở cơ thể ở mức cao. Có 2 loại chính của bệnh tiểu đường:
    • Tiểu đường tuýp 1 – khi hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công và tiêu diệt tế bào sản xuất insulin
    • Tiểu đường tuýp 2 - khi cơ thể sản xuất không đủ insulin hoặc các tế bào của cơ thể không phản ứng với insulin
  • Thừa cân và béo phì được là tình trạng tích lũy mỡ, chất béo quá mức và không bình thường trên cơ thể. Tình trạng này có thể gây ra nhiều nguy hại tới sức khỏe.
  • Cholesterol cao là tình trạng nồng độ cholesterol (chất béo đóng vai trò cấu tạo nên tế bào) trong cơ thể cao hơn mức bình thường.
  • Hội chứng chuyển hoá là tên cho một nhóm các yếu tố nguy cơ có khả năng dẫn tới bệnh tim, tiểu đường, và các vấn đề sức khỏe khác
  • Chứng sa sút trí tuệ là một nhóm các triệu chứng ảnh hưởng đến trí nhớ, suy nghĩ, hành vi xã hội và khả năng thực hiện các công việc hàng ngày của người mắc bệnh
  • Việc uống rượu có thể trở nên nghiêm trọng và được chẩn đoán y tế với tên là "rối loạn sử dụng rượu" hoặc AUD. AUD là bệnh liên quan đến não mãn tính do lạm dụng rượu, uống rượu không kiểm soát và lệ thuộc, có những hành vi tiêu cực khi không được uống rượu.
  • Tâm thần phân liệt là một bệnh tâm thần nặng, có ảnh hưởng đến suy nghĩ, cách ứng xử của người bị bệnh. Những người bị tâm thần phân liệt có suy nghĩ lạ lùng, kì dị, không bình thường, gây ra nhiều khó khăn trở ngại cho chính bản thân họ, cho gia đình, bạn bè.
  • Trầm cảm là tình trạng rối loạn tâm thần phổ biến nhưng khá nguy hiểm. Nó gây ra các triệu chứng ảnh hưởng nghiêm trọng đến suy nghĩ, cảm nhận, hành vi ứng xử với các hoạt động hành ngày như ăn ngủ, làm việc.
  • Rối loạn ăn uống là tình trạng rối loạn tâm thần nghiêm trọng. Nó liên quan đến những suy nghĩ của bạn về thức ăn, từ đó ảnh hưởng đến hành vi ăn uống của ạn. Bạn có thể ăn ít hơn hoặc nhiều hơn lượng bạn cần.
    • Ăn uống mất kiểm soát, ăn quá nhiều
    • Cuồng ăn trong một khoảng thời gian nhất định
    • Chán ăn, không thiế ăn uống hoặc chỉ ăn một lượng rất ít thưc ăn
  • Nhiều phụ nữ gặp phải rối loạn chức năng tình dục ở một giai đoạn nhất định của cuộc đời. Những vấn đề liên quan đến thể chất, ham muốn, sở thích tình dục, cực khoái, đau khi quan hệ tình dục diễn ra liên tục hoặc lặp đi lặp lại được tính là rối loạn chứng năng tình dục.
  • Xuất tinh sớm là hiện tượng phổ biến ở đàn ông, thể hiện qua sự xuất tinh sau một hời gian ngắn không theo mong muốn của người nam giới.
  • Trầm cảm tuổi dậy thì là một vấn đề y tế nghiêm trọng, nó không chỉ là cảm giác buồn bã, chán nản trong vài ngày. Nó là cảm giác buồn chán, vô vọng, cáu kỉnh tức giận trong một thời gian dài.
  • Rối loạn tâm thần (hoặc bệnh tâm thần) là tình trạng bệnh ảnh hưởng đến suy nghĩ, tâm trạng, cảm xúc, hành vi. Tình trạng này có thể cấp tính hoặc mạn tính, ảnh hưởng tới mối quan hệ của bạn với mọi người cũng như các hoạt động hàng ngày.
  • Bệnh Parkinson (PD) là một loại rối loạn vận động. Bệnh này xảy ra khi các tế bào trong não bị thoái hóa, không tiết đủ các chất hóa học dopamine để kiểm soát vận động của cơ bắp.
  • Bệnh Alzheimer (AD) là hình thức phổ biến nhất của chứng mất trí trong số những người lớn tuổi. Mất trí nhớ là một rối loạn não nghiêm trọng ảnh hưởng đến khả năng của một người để thực hiện các hoạt động hàng ngày.
  • Có giật là một tình trạng bệnh lý ảnh hưởng đến hành vi sau khi những tế bào thần kinh bị hoạt động quá mức.
  • Bệnh động kinh hay còn được gọi là rối loạn co giật, là một rối loạn của hệ thống thần kinh trung ương. Một người được chẩn đoán là động kinh khi họ có từ hai cơn co giật trở lên.
  • Mất ngủ là một rối loạn giấc ngủ phổ biến có thể bao gồm khó đi vào giấc ngủ, ngủ không sâu, thức lại sớm,... Mất ngủ có thể gây ra tình trạng mệt mỏi do ngủ quá ít, chất lượng giấc ngủ không đảm bảo, bạn có thể vẫn cảm thấy mệt mỏi sau khi thức dậy.
  • Bệnh võng mạc có nhiều loại khác nhau, hầu hết đều ảnh hưởng đến tầm nhìn của mắt. Bệnh võng mạc có thể ảnh hưởng đến bất kì vị trí nào trên võng mạc. Võng mạc là màng thần kinh - tiếp nhận ánh sáng từ ngoài truyền vào thần kinh thị giác.
  • Bệnh van tim xảy ra nếu một hoặc nhiều van tim của bạn không hoạt động tốt. Trái tim có bốn Van: các van tricuspid, phổi, mitral, và động mạch chủ. Những van có nắp mô mở và đóng với mỗi nhịp tim. Các cánh tà chắc chắn máu chảy đi đúng hướng thông qua bốn buồng của trái tim của bạn và để phần còn lại của cơ thể của bạn.
  • Hẹp động mạch phổi là bệnh bẩm sinh, khi van tim cho phép máu ra khỏi tim đến phổi (van động mạch phổi) có cấu tạo không bình thường. Van động mạch phổi là một trong bốn van tim đảm nhận chức năng đóng mở khi có máu ra vào tim.
  • Viêm cơ tim là tình trạng viêm ác tế bào cơ tim, thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ
  • Rung thất (VF) là tình trạng rối loạn nhịp tim nghiêm trọng có thể đe dọa đến tính mạng
  • Huyết áp thấp là tình trạng huyết áp ở mức dưới 90/60mmHg.
  • Dị ứng mạt bụi nhà là cơ thể phản ứng, dị ứng với những con mạt sống ở trong nhà
  • Dị ứng động vật (thú cưng) là phản ứng của cơ thể với các protein trên tế bào da, nước bọt và nước tiểu của động vật
  • Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, hoặc COPD, là một nhóm các bệnh hô hấp gây khó thở vì đường thở bị hẹp lại so với bình thường làm giảm tình trạng hô hấp.
  • Xơ phổi là một tình trạng trong đó các mô sâu trong phổi xơ cứng, xơ hóa theo thời gian. Các phế nang trở nên dày và cứng hơn, khiến người bệnh khó thở dẫn tới nồng độ oxy trong máu giảm xuống
  • MÁp xe răng là nhiễm trùng răng, có mủ xâm nhập vào phần trung tâm của răng, vào tủy (các mô mềm của răng có các dây thần kinh, mạch máu và mô liên kết)
  • Polyp dạ dày là các khối u của các tế bào hình thành trên lớp lót bên trong dạ dày.
  • Thoát vị bẹn là tình trạng một tạng trong ổ bụng rời khỏi vị trí của mình, di chuyển qua một khu vực yếu kém của ống bẹn để xuống bìu. Đây là thoát vị thường gặp trong thoát vị thành bụng.
  • Sa trực tràng là tình trạng một phần hoặc toàn bộ trực tràng lộn lại và chui ra ngoài hậu môn.
  • Gan của bạn là cơ quan nội tạng lớn nhất trong cơ thể. Nó giúp cơ thể tiêu hóa thực phẩm, chuyển hóa chất dinh dưỡng, thanh lọc độc tố cho cơ thể. Có rất nhiều loại bệnh gan:
    • Các bệnh do virus gây ra, chẳng hạn như viêm gan A, viêm gan B, và viêm gan C
    • Các bệnh gây ra bởi chất gây nghiện, chất độc, hoặc uống quá nhiều rượu. Ví dụ như bệnh gan nhiễm mỡ
    • Ung thư gan
    • Bệnh gan di truyền, chẳng hạn như bệnh thừa sắt và bệnh Wilson
  • Suy gan cấp tính là tình trạng mất chức năng gan xảy ra nhanh chóng trong vài ngày hoặc vài tuần - ở những người chưa từng bị bệnh về gan.
  • Xuất huyết tiêu hóa (chảy máu tiêu hóa) là trường hợp xuất huyết có nguồn gốc từ thực quản, dạ dày, tá tràng.
  • Bệnh viêm da eczema (còn gọi là chàm eczema) là tình trạng viên lớp nông của da. Bệnh này ở Việt Nam còn được gọi là chàm tổ đỉa
  • Thường nổi mụn ở mặt, cổ, lưng, ngực và vai. Bất kì ai cũng có thể nổi mụn nhưng mụn phổ biến hơn ở thanh thiếu niên và người trẻ.
  • Bệnh lupus ban đỏ hệ thống là bệnh tự miễn, nghĩa là hệ thống miễn dịch tự tấn công tế bào khỏe mạnh do nhầm lẫn. Từ đó gây tổn thương các bộ phận trong cơ thể bao gồm khớp, da, thận, tim, phổi, mạch máu và não
  • Đau lưng là rất phổ biến và thường được cải thiện trong vòng một vài tuần hoặc vài tháng. Đau ở lưng dưới (lumbago) đặc biệt phổ biến, mặc dù nó có thể được cảm nhận bất cứ nơi nào dọc theo cột sống, từ cổ xuống đến hông.
  • Loãng xương là hiện tượng xương mỏng dần, mật độ chất trong xương thưa dần dẫn tới xương giòn hơn, dễ tổn thương, dễ gãy. Thường gặp ở xương hông, xương cột sống và xương cổ tay.
  • Suy thận cấp tính xảy ra rất nhanh (dưới 2 ngày) là khi thận mất khả năng loại bỏ muối, chất lỏng và sản phẩm chuyển hóa từ máu, làm cơ thể tích tụ các chất độc hại, mất cân bằng điện giả.
  • Đái dầm hay còn gọi là tiểu đêm không kiểm soát là đi tiểu vô thức trong khi ngủ. Thường thì theo thời gian, đái dầm sẽ tự hết khi trẻ lớn lên, nhưng đến tuổi trưởng thành mà vẫn đái dầm thì nó là biểu hiện bệnh lý
  • U nang vú là bọc dịch ở trong mô vú, nó không gây nguy hiểm và có thể không cần điều trị
  • U xơ tuyến vú là tình trạng tăng sinh lành tính, xuất hiện khối u cục cứng, bề mặt nhẵn, gây đau trong ngực. Bị u xơ vú không làm tăng nguy cơ bị ung thư vú
  • Sa tử cung (hay còn gọi là sa dạ con, sa thành âm đạo) là khi thành cử cung tụt xuống vào trong ống âm đạo, thậm chí còn có trường hợp tử cung lộ ra ngoài âm đạo
  • Polyp lòng tử cung hay còn được gọi là polyp nội mạc tử cung là bệnh hình thành do sự phát triển quá mức của tuyến và mô đệm nội mạc tử cung. Nội mạc tử cung là lớp niêm mạc phủ trong lòng buồng tử cung, phân cách giữa buồng tử cung và cơ tử cung, niêm mạc tử cung phát triển dày mỏng theo chu kỳ kinh nguyệt.
  • Vô kinh là tình trạng không có kinh nguyệt ở phụ nữ liên tục hoặc vĩnh viễn. Vô kinh nguyên phát là người phụ nữ đến khi 15 tuổi vẫn không có kinh nguyệt. Vô kinh thứ phát được định nghĩa là hiện tượng không có kinh nguyệt từ 3 chu kỳ hoặc từ 6 tháng trở lên trên nữ giới đã có kinh nguyệt trước đó.
  • Vàng da là một tình trạng phổ biến và thường vô hại ở trẻ sơ sinh gây ra vàng da, vàng mắt (vàng ở phần lòng trắng của mắt)
  • Ho mãn tính là tình trạng ho dai dẳng kéo dài 8 tuần hoặc lâu hơn, ho hầu hết các ngày trong tuần
  • Vi khuẩn ở trong miệng và kẽ răng tạo ra mùi hôi ở miệng. Các vấn đề với khoang miệng, nướu, răng lợi, khô miệng, sâu răng cũng có thể khiến bạn bị hôi miệng.
  • Viêm xoang trán là đau đầu do viêm xoang, bạn có thể cảm thấy tức, nhức ở quanh mắt, má và trán, kèm theo đau đầu
  • Chảy mồ hôi là hiện tượng bình thường của cơ thể khi trời nóng hoặc khi tập thể dục, nhưng khi bạn chảy mồ hôi nhiều bất thường, ngay cả khi nghỉ ngơi hay làm việc ít, tay chân luôn ẩm ướt thì đó là tình trạng tăng tiết mồ hôi
  • HPV là nguyên nhân hàng đầu trong các bệnh truyền qua đường tình (STI). Có nhiều loại HPV khác nhau. Một số loại có thể gây ra bệnh lý như mọc mụn cóc sinh dục và ung thư. Tiêm phòng vaccine có thể giúp ngăn ngừa các vấn đề này
  • Thân nhiệt tăng cao không phải điều gì quá nghiêm trọng nếu bạn có thể giảm thân nhiệt trở lại bình thường trong vòng 30 phút. Tuy nhiên nếu bạn bị sốc nhiệt (say nắng) do tiếp xúc dài, gắng sức ở nhiệt độ cao, thì đây là tình trạng khẩn cấp
  • Nấm mốc là những bào tử nhỏ trôi nổi trong không khí. Bất kì ai cũng có thể hít phải bào tử nấm mốc trong không khí, tuy nhiên một số người bị dị ứng hoặc xuất hiện triệu chứng như bị hen suyễn khi tiếp hít phải một lượng lớn nấm mốc.
  • Dị ứng trứng xảy ra khi hệ thống miễn dịch của cơ thể phản ứng quá mức với protein trong lòng trắng hoặc lòng đỏ của trứng
  • Dị ứng sữa xảy ra khi hệ thống miễn dịch của cơ thể phản ứng quá mức với sữa và các sản phẩm có chứa sữa
  • Chóng mặt, mất thăng bằng là một triệu chứng điển hình của rối loạn tiền đình. Rối loạn tiền đình có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng bệnh này phổ biến hơn với người lớn tuổi
  • Rối loạn lo âu là rối loạn tâm lý, người bệnh thường có cảm giác lo lắng quá mức với một sự việc trong thời gian dài, và có thể trở nên tệ hơn theo thời gian. Tình trạng này kéo dài và lặp lại nhiều lần có thể ảnh hưởng tới cuộc sống, sinh hoạt, công việc, các mối quan hệ cá nhân của người bệnh.
  • Caffeine là một chất có vị đắng, được tìm thấy ở trên 60 loại thực vật bao gồm
    • Cà phê hạt
    • Lá chè
    • Hạt Kola, được sử dụng để làm nước ngọt vị cola
    • Hạt ca cao, được sử dụng để làm sô cô la
  • Ngưng thở khi ngủ là trong quá trình ngủ, người bệnh ngừng lưu thông không khí (hít thở). Chính điều này đã làm không khí không lưu thông được vào phổi đem oxy tới não.
  • Bạn có thể kiểm tra mình có mang thai hay không kể từ ngày đầu tiên không thấy kinh nguyệt. Nếu bạn không biết khi nào đến kỳ kinh bạn có thể kiểm tra sau 21 ngày tính từ ngày có quan hệ tình dục
  • Rối loạn nhịp điệu sinh học là rối loạn giấc ngủ ảnh hưởng đến chu trình ngủ - thức dậy. Tình trạng này khiến bạn không thể ngủ và thức dậy đúng giờ
  • Rối loạn vận động tay chân theo chu kỳ là tình trạng tay chân co giật, chuyển động lặp đi lặp lại trong lúc ngủ. Nó thường ở chân nhưng cũng có thể bị cả ở tay
  • Mộng du một loại của rối loạn giấc ngủ, chẳng hạn như đi lại khi vẫn đang ngủ. Gặp ác mộng, đái dầm, ngừng thở khi ngủ, ngủ ngáy hoặc co giật khi ngủ cũng là những trạng thái của rối loạn giấc ngủ
  • Ngủ nhiều, ngủ rũ là khi bạn gặp khó khăn khi thức dậy, ngủ ngày quá nhiều, có thể ngủ bất cứ lúc nào
  • Sùi mào gà sinh dục là bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến (STI) lây truyền qua quan hệ tình dục âm đạo, hậu môn và bằng miệng
  • Đây là một số trong những vấn đề mà mẹ gặp phải khi cho con bú:
    • Đau hoặc nứt núm vú
    • Không đủ sữa mẹ
    • Căng tức vú
    • Bé không bú đúng cách
  • Áp xe vú là tình trạng viêm, sưng đỏ, đau, tích tụ mủ trong vú. Hầu hết áp xe phát triển ở dưới da và do vi khuẩn gây ra
  • Viêm tuyến vú (viêm tuyến sữa) khiến mô vú của phụ nữ trở nên đau đớn và bị viêm. Tình trạng này phổ biến nhất ở phụ nữ cho con bú, thường trong vòng 6 tuần sau khi sinh.
  • Tiền sản giật là biến chứng thai kỳ nghiêm trọng do huyết áp tăng cao và có các dấu hiệu tổn thương khác, thường là thận ở tuần thứ 20 của thai kỳ. Hiếm gặp hơn, phụ nữ có thể bị tiền sản giật sau khi sinh em bé, thường là sau 48 giờ - gọi là tiền sản giật sau sinh
  • Đau vú là tình trạng bị đau, tức khó chịu ở vú và ở vùng dưới cánh tay
    • Đau vú theo chu kỳ. Cơn đau có liên quan trực tiếp tới kỳ kinh nguyệt
    • Đau vú không theo chu kỳ. Cơn đau có thể đến từ một khu vực ở vú, hoặc có thể đến từ các cơ hoặc khớp gần đó
  • Bệnh đa xơ cứng (đa xơ cứng rải rác) là bệnh tự miễn có ảnh hưởng đến các tế bào thần kinh ở não bộ và tủy sống (hệ thần kinh trung ương)
  • Sốc nhiễm khuẩn là tình trạng sốc xảy ra khi cơ thể bị nhiễm khuẩn nặng, chuyển sang nhiễm trùng huyết và rối loạn chức năng tim mạch.
  • Sâu răng là tình trạng tổn thương mất mô cứng ở răng do vi khuẩn gây phân rã cấu trúc của răng, vi khuẩn này ở mảng bám của răng, tạo ra axit tấn công mề mặt của răng, tạo thành các lỗ nhỏ trên răng
  • Xơ gan là tình trạng xơ hóa (tạo sẹo) ở gan. Khi mô sẹo ở gan hình thành, gan sẽ không còn khỏe mạnh để thực hiện chức năng chống nhiễm trùng, làm sạch máu, giúp tiêu hóa thức ăn và dự trữ năng lượng cho cơ thể như bình thường
  • Hội chứng mệt mỏi mạn tính là một bệnh nghiêm trọng, ảnh hưởng lâu dài tới cơ thể. Hội chứng này là khi người bệnh luôn cảm thấy uể oải mệt mỏi với mọi hoạt động hàng ngày, mệt mỏi không cải thiện kể cả khi nghỉ ngơi.
  • Giộp môi là bệnh nhiễm trùng ở miệng do virus herpes simplex (HSV) gây ra. Có 2 loại HSV, loại 1 thường gây ra herpes miệng hoặc giộp môi.
  • Viêm lợi và miệng là một nhiễm trùng miệng và nướu răng dẫn đến sưng và lở loét. Nó có thể là do vi rút hoặc vi khuẩn.
  • Rối loạn lưỡng cực là một rối loạn tâm thần nghiêm trọng, những người mắc bệnh này thường thay đổi tâm trạng bất thường. Họ có thể rất hưng phấn, hạnh phúc nhưng sau đó lại rơi vào trạng thái vô vọng, trầm cảm rồi lại phấn khích tăng động quá mức. Bệnh rối loạn lưỡng cực có tính chất chu kỳ.
  • Chảy máu cam là khi máu chảy ra từ mô của mũi. Tình trạng chảy máu thường chỉ xảy ra ở một bên lỗ mũi. Chảy máu cam không phải là một dấu hiệu nghiệm trọng, nó khá phổ biến nhất là ở trẻ em và có thể tự điều trị tại nhà
  • Nấm candida hay nhiễm trùng nấm men là bệnh nhiễm trùng do một loại nấm tên là candida gây ra. Loại nấm này tồn tại bình thường trong cơ thể, nhưng khi môi trường axit mất cân bằng, độ pH ở vùng kín sẽ tạo điều kiện cho nấm phát triển. Nhiễm trùng nấm candida có thể ảnh hưởng tới cả nam và nữ
  • Mất nước là tình trạng chất lỏng trong cơ thể bị thoát ra ngoài nhiều hơn lượng nhập vào. Sự mất cân bằng này sẽ ảnh hưởng đến nồng độ muối, khoáng chất và đường trong cơ thể từ đó cản trở hoạt động bình thường của cơ thể.
  • Rụng tóc là điều bình thường, mỗi ngày bạn có thể rụng từ 50 đến 100 sợi tóc. Rụng tóc không phải là một dấu hiệu nghiêm trọng, nhưng nó khiến mọi người lo lắng nhiều hơn về tính thẩm mỹ.
  • Thiếu máu do thiếu sắt là một tình trạng phổ biến của thiếu máu, khi hồng cầu bị giảm cả về số lượng và chất lượng do thiếu sắt.
  • Rụng tóc do di truyền dẫn tới hói đầu, đây không phải là một bệnh, đây là một hiện tượng di truyền tự nhiên, do nồng độ hormone trong cơ thể và quá trình lão hóa gây ra.
  • Vitamin K tham gia vào quá trình đông máu ở người, thiếu vitamin K sẽ khiến bạn không thể ngừng chảy máu, vì không đủ vitamin K để đông máu
  • Viêm xương ổ răng (viêm ổ răng khô) là biến chứng sau khi nhổ răng. Ổ răng là lỗ xương nơi răng được gắn vào. Khi răng bị nhổ đi, một cục máu đông sẽ hình thành trong ổ răng, cục máu này bảo vệ xương và tủy cho tới khi lành.
  • Chứng đỏ mặt là bệnh về da phổ biến ảnh hưởng đến da và mắt. Tình trạng này gây ran mẩn đỏ ở mặt và mụn. Chứng đỏ mặt thường gặp phải ở phụ nữ và người nó nước da sáng hơn bình thường. Phổ biến nhất là người ở độ tuổi trung niên và người già.
  • Tuyến yên là một tuyến nhỏ, có kích thước bằng hạt đậu nằm ở đáy não. Tuyến yên tạp ra các hormone giúp cơ thể tăng trưởng, điều hòa hormone ảnh hưởng tới các tuyến khác trên cơ thể. Ung thư tuyến yên khá hiếm, nó thường chỉ được chẩn đoán khi đã di căn sang bộ phận khác của cơ thể
  • Trầm cảm sau sinh là một tình trạng tâm thần nghiêm trọng liên quan đến hệ thần kinh và ảnh hưởng đến hành vi, sức khỏe thể chất của người mẹ. Trầm cảm là một tình trạng khá phổ biến sau khi mang thai. Cứ 10 bà mẹ thì có một người bị trầm cảm sau sinh.
  • Bệnh Basedown (grave) là rối loạn tự miễn do cường giáp (tuyến giáp hoạt động quá mức) gây ra. Khi mắc bệnh này, hệ thống miễn dịch sẽ tự tấn công tuyến giáp để làm cho tuyến giáp hoạt động nhiều hơn nhu cầu của cơ thể.
  • Teo âm đạo là tình trạng âm đạo mỏng đi, khô và viêm nhiễm do suy giảm estrogen
  • Hội chứng Rurner là một rối loạn nhiễm sắc thể giới tính thường gặp ở phụ nữ. Nguyên nhân là do mất một phần hoặc toàn bộ nhiễm sắc thể giới tính X trong bộ gen
  • Xơ cứng bì hệ thống là rối loạn tự miễn ảnh hưởng đến da và các cơ quan hội tạng. Có hai thể xơ cứng là:
    • Xơ cứng bì khu trú
    • Xơ cứng bì lan tỏa
  • Bệnh động mạch ngoại biên ở chân hay chi dưới là một vấn đề tuần hoàn phổ biến trong đó động mạch bị thu hẹp lại làm giảm lưuu lượng máu đến chân. Bệnh động mạch ngoại biên có thể ảnh hưởng đến bất kì hệ thống mạch nào trong cơ thể, nhưng phổ biến ở chân hơn ở tay
  • Áp xe gan do amip là tình trạng gan bị nhiễm mủ với những lỗ hổng nhỏ gây ra bởi ký sinh trùng đường ruột có tên gọi là Entamoeba histolytica
  • Giun đũa là ký sinh trùng, xâm nhập vào cơ thể để sinh sống, lấy chất dinh dưỡng
  • Bệnh vẩy nến là bệnh viêm da mạn tính phổ biến liên quan đến tốc độ phát triển của các tế bào da
  • Nhiệt miệng là những vết loét nhỏ, tròn trong miệng của bạn. Chúng có thể ở bên trong má, dưới lưỡi, hoặc ở mặt sau của cổ họng